Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

9

Đặt vấn đề:

Khu vực kinh tế tư nhân đã có những đóng góp to lớn cho đất nước và ngày càng nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước.Mặc dù vậy, quá trình phát triển của khu vực kinh tế tư nhân hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém, hạn chế.Do đó, việc nghiên cứu và đưa các giải pháp để thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân là việc làm bức thiết hiện nay. Đây cũng là chủ trương và quan điểm của Đảng tại đại hội XII (2016), nhằm tạo ra những đột phá mới thuận lợi cho phát triển của kinh tế tư nhân trong bối cảnh tinh thần “quốc gia khởi nghiệp” và hội nhập quốc tế của Việt Nam đang diễn ra sâu rộng, mạnh mẽ.

Thanh Hóa là tỉnh cực bắc của miền trung hiện cũng là tỉnh đang có tốc độ tăng trưởng nhanh. Mặc dù vậy, sự phát triển của kinh tế tư nhân Thanh Hóa vẫn được đánh giá là còn nhiều hạn chế, chưa phản ánh đúng tiềm năng của tỉnh.Tốc độ phát triển kinh tế tư nhân còn chậm hơn so với tốc độ trung bình của cả nước cả về số lượng và chất lượng.

Từ khóa: kinh tế, kinh tế tư nhân, nguồn lực, tài nguyên, xã hội, giá trị vốn hóa, giá trị sản xuất, Thanh Hóa, hội nhập, khởi nghiệp.

*Tác giả:NCS. ThS. Nguyễn Xuân Hưng

Email: xuanhungnguyen@gmail.com

Cơ quan công tác: Công ty Xuân Hưng

———————————–

Ngày nộp: 3/3/2019

Ngày đăng, xuất :26/03/2019

——————————————–

Lý luận vê phát triển kinh tế tư nhân.

Kinh tế tư nhân (KTTN) là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, với lao động của các chủ thể kinh tế và lao động làm thuê, bao gồm: kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp thuộc tư nhân.

KTTN là bộ phận quan trọng trong cơ cấu kinh tế, là một tất yếu khách quan của phát triển kinh tế thị trường.Kinh tế thị trường là một mô hình, phương tiện để đạt đến một trình độ sản xuất hiện đại, và kinh tế thị trường khó có thể tồn tại và phát triển nếu không có KTTN và sở hữu tư nhân. Bất kể một nền kinh tế nào hoạt động theo cơ chế thị trường đều có KTTN, với hình thức biểu hiện qua các mô hình tổ chức DN. Các mô hình tổ chức DN này sẽ tự nó ứng xử theo cơ chế thị trường và có sức sống mãnh liệt trong môi trường của cơ chế thị trường.

KTTN ở nước ta ra đời và phát triển trong quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chứ không phải là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Quá trình tồn tại và phát triển của KTTN ở nước ta hiện nay được xem như động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, là những hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh theo mục tiêu của CNXH, là bộ phận cấu thành của quan hệ sản xuất định hướng XHCN.

KTTN ở nước ta phát triển trong bối cảnh đất nước đang cấu trúc lại nền kinh tế. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011): khẳng định “Phát triển mạnh các loại hình KTTN ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật. Tạo điều kiện hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước. Thu hút mạnh đầu tư trực tiếp nước ngoài vào những ngành, lĩnh vực kinh tế phù hợp với quy hoạch và chiến lược phát triển của đất nước, nhất là lĩnh vực công nghệ cao…”

Phát triển KTTN ở nước ta có vị trí, vai trò ngày càng quan trọng là sự cần thiết có tác dụng to lớn trên nhiều mặt:

Một là,KTTN là nhân tố tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế năng động và đóng góp ngày càng lớn vào ngân sách Nhà nước.

Hai là,Sự phát triển của KTTN trong thời gian qua đã khơi dậy những tiềm năng của đất nước cho phát triển kinh tế – xã hội, tạo ra một khối lượng của cải vật chất to lớn, đóng góp đáng kể vào giá trị thu nhập của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, ở các nước có nền kinh tế phát triển cao và hiệu quả, tỷ lệ đóng góp vào tổng sản phẩm quốc dân của khu vực KTTN bao giờ cũng cao hơn khu vực kinh tế Nhà nước.

Bốn là, nhờ khai thác và sử dụng tốt những nguồn tiềm năng trí tuệ, kinh nghiệm, khả năng kinh doanh, tiền vốn, sức lao động, tài nguyên và các nguồn lực khác của khu vực KTTN góp phần thu hút được nhiều lao động ở nông thôn vào các ngành phi nông nghiệp, nhất là công nghiệp đã giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế từng địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước. KTTN góp phần thúc đẩy việc hình thành các chủ thể kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế xã hội theo hướng kinh tế thị trường, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế

Năm là,KTTN góp phần khai thác, tận dụng và phát huy có hiệu quả các nguồn nội lực đa dạng: tài năng kinh doanh, vốn, tài nguyên, lao động, lợi thế so sánh. KTTN góp phần tích cực vào phát triển kinh tế theo hướng tận dụng, phát huy tiềm năng, lợi thế so sánh của từng vùng. Khu vực KTTN tạo được nhiều việc làm; cải thiện đời sống người lao động, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập.

Sáu là,Các cơ sở KTTN có quy mô vừa và nhỏ, dễ thích nghi với điều kiện nông thôn, nơi có nhiều lao động nhàn rỗi nên đã góp phần vào giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần giảm áp lực việc làm cho nhà nước. Bên cạnh đó, KTTN không những có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần ổn định chính trị – xã hội của cả thành thị và nông thôn.

Bảy là, KTTN tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho lao động, góp phần ổn định chính trị và xã hội quốc gia, bởi vì Phát triển kinh tế tư nhân là phát triển các thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân cả về mặt số lượng và chất lượng nhằm tạo ra sự thay đổi cơ bản trong xã hội

Đại hội Đảng lần thứ XI (2011): khẳng định “… Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế. Phát triển mạnh các loại hình kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật. Tạo điều kiện hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước.Thu hút mạnh đầu tư trục tiếp nước ngoài vào những ngành, lĩnh vực kinh tế phù hợp với quy hoạch và chiến lược phát triển của đất nước, nhất là lĩnh vực công nghệ cao. Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, các trang trại, hộ sản xuất kinh doanh, đặc biệt trong nông nghiệp và khu vực nông thôn, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế…”

KTTN chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như chính sách của nhà nước, thị trường, vốn đầu tư, nguồn nhân lực…Các yếu tố này tác động tới sự phát triển KTTN không phải một cách riêng lẻ mà trong một thể thống nhất mang tính hệ thống chặt chẽ. Giữa các yếu tố có mối quan hệ mật thiết với nhau.Chính vì thế cần nghiên cứu kỹ các yếu tố trong những điều kiện nhất định để từ đó có sự tác động thích hợp tạo ra các mối tương quan hợp lý nhằm thúc đẩy KTTN phát triển một cách hiệu quả nhất trong những điều kiện nguồn lực nhất định.

Cơ sở thực tiễn về phát triển KTTN ở Việt Nam

Có thể nói ở hầu hết các nước phát triển, nhất là những nước theo mô hình phát triển kinh tế thị trường tự do kiểu Mỹ, hay cả những nước theo đuổi mô hinh nền kinh tế phúc lợi như những nước phương Tây, khu vực tư nhân đóng vai trò then chốt và xuyên suốt trong suốt quá trình phát triển kinh tế ở những nước này. Sự tồn tại và phát triển của khu vực tư nhân là tất yếu, góp phần quan trọng tạo động lực phát triển kinh tế trong nước và vươn ra nước ngoài (các tập đoàn đa quốc gia).KTTN là một bộ phận quan trọng cấu thành toàn bộ nền kinh tế.Nhiều quốc gia phát triển mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại của hình thức kinh tế này và tích cực phát triển nó như một công cụ hiệu quả để phát triển kinh tế.Có ý kiến cho rằng các nước phát triển là nơi khu vực KTTN có sức mạnh khổng lồ và ưu thế tuyệt đối.

Trong số các nước này, một trường hợp rất đáng để tham khảo đó là phát triển KTTN tại Hàn Quốc.Từ một nước bị tàn phá và chia cắt sau chiến tranh đã vươn lên ngang hàng với các nước phát triển trên thế giới nhờ biết nắm bắt mọi thời cơ và vận dụng chính sách linh hoạt để huy động tiềm lực trong nước.Từ những năm 1960, Từ một nước có GDP bình quân đầu người chỉ xấp xỉ các nước nghèo ở Châu Phi và Châu Á vào thập niên 1950, đến năm 1996, Hàn Quốc đã là thành viên của khối OECD, và gia nhập câu lạc bộ ngàn tỷ đôla trên thế giới năm 2004. Hiện Hàn Quốc là một trong 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Cho đến nay, chất lượng tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc được đánh giá khá tốt, nhất là so với các nước có cùng giai đoạn và hoàn cảnh phát triển. Ban đầuChính phủ xúc tiến nhập khẩu nguyên liệu thô và công nghệ để xuất khẩu hàng tiêu dùng, đồng thời khuyến khích tiết kiệm và đầu tư hơn là tiêu dùng. Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 – 98 bùng nổ đã làm bộc lộ những yếu kém có từ lâu của mô hình phát triển Hàn Quốc, cụ thể là tỷ lệ nợ/ tài sản cao và vay nước ngoài ngắn hạn ồ ạt. Năm 1998, tăng trưởng GDP chỉ đạt 6,9% nhưng sau đó đã tăng lên 9% trong giai đoạn 1999-2000. Sau khủng hoảng, Hàn Quốc đã triển khai rất nhiều cải cách kinh tế, trong đó có mở cửa rộng hơn cho đầu tư nước ngoài và nhập khẩu; đồng thời, do khu vực KTTN đã tương đối phát triển nên nước này cũng mau chóng vượt qua khủng hoảng và nay đã bắt đầu lấy lại sức mạnh của mình. Từ năm 2003 – 2007, tăng trưởng dao động trong khoảng 4-5%. Trước tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008, tăng trưởng GDP của Hàn Quốc duy trì ở mức 2,2% năm 2008 và giảm xuống còn 0,8% năm 2009. Nền kinh tế bắt đầu hồi phục từ quý III năm 2009, chủ yếu là nhờ tăng trưởng xuất khẩu, lãi suất thấp, và chính sách tài khóa mở rộng.

Bên cạnh Hàn Quốc, Trung Quốc cũng là một nước có nền KTTN phát triển.Nhờ chính sách cải cách và mở cửa, khu vực tư nhân Trung Quốc đã phát triển rất mạnh trong 30 năm qua, từ chỗ bị hạn chế hay thậm chí cấm phát triển trở thành một yếu tố cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường. Dù tiến trình phát triển nhanh chóng của khu vực KTTN đã vấp phải rất nhiều trở ngại, nhưng sự đi lên này là một xu thế tất yếu. Rõ ràng là việc khai thác mô hình cải cách tương tác hai chiều “từ trên xuống” và “từ dưới lên”, kéo theo những tranh luận gay gắt giữa các chuyên gia kinh tế, đóng vai trò quan trọng quyết định trong tiến trình phát triển của thành phần kinh tế này.

Khu vực tư nhân, bao gồm nhóm tư nhân, cơ sở kinh doanh hộ gia đình hoặc các chợ của tiểu thương,… được đánh giá là thành phần chủ nghĩa tư bản vì tư nhân có nghĩa sản xuất và khai thác bằng cách thuê lao động có sẵn. Vì vậy, trước khi Trung Quốc có chính sách cải cách và mở cửa, khu vực tư nhân của Trung Quốc bị coi như “cái đuôi của chủ nghĩa tư bản” cần phải cắt bỏ. Nhưng trên thực tế, nhất là tại khu vực nông thôn tụt hậu rộng lớn, “cái đuôi của nền kinh tế tư hữu” này đã không hoàn toàn bị cắt bỏ và hoạt động mang tính bất hợp pháp.

Khi làn gió mở cửa và cải cách thổi vào Trung Quốc, các lực lượng sản xuất nêu trên đã phát triển như nấm sau một thời gian dài bị kìm nén.Khu vực KTTN phát triển hết sức mạnh mẽ sau cải cách. Đến năm 2005, số các đơn vị kinh doanh cá thể đã lên đến 24,64 triệu so với 0,14 triệu vào năm 1978, với tổng số vốn đầu tư là 580,95 tỷ nhân dân tệ và thu hút 49 triệu lao động. Từ cuối những năm 1980, các doanh nghiệp tư nhân tại Trung Quốc không ngừng lớn mạnh với tốc độ hơn 30 %/ năm tính từ năm 1992. Đến cuối năm 2005, đã có 4.3 triệu doanh nghiệp tư nhân, với tổng vốn đăng ký 6.133,11 tỷ NDT, thuê 58,24 triệu lao động. Khu vực ngoài quốc doanh này đã góp phần tạo nên 1/3 GDP và 4.5 số lao động mới trong những năm gần đây. Khu vực cá thể và ngoài quốc doanh cũng đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm.

Tại Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh là một điểm sáng về phát triển kinh tế, là “hạt nhân” của vùng kinh tế động lực phía nam, có sự phát triển KTTN rất mạnh mẽ và mang tính điển hình. Kinh nghiệmthực tế từ quá trìnhphát triển KTTN ở thành phố HCM chỉ ra,đó là:

Một,Nhanh chóng thay đổi nhận thức về KTTN: Ngay khi luật doanh nghiệp rađời, ban lãnh đạo thành phố đã nhận thức được bước chuyển mới của KTTN, nên luôn đặt ra yêu cầu phải tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh. – Thành phố luôn quan tâm chú trọng đến công tác ban hành văn bản hướng dẫn thi hành: thành phố đã kịp thời tuyên truyền, hướng dẫn luật DN 1999 và nghị quyết 14/TW 5 khóa IX sâu rộng trong xã hội. Thông qua các quyết định, chỉ thị và hoạt động của các cơ sở ban ngành chức năng và chỉ đạo thực hiện sát sao.

Hai,Quá trình và phương pháp quản lý nhà nước của thành phố cũng không ngừng được đổi mới theo phương thức: “năng lực quản lý phải được xây dựng, tăng cường đủ mức để thúc đẩy và quản lý được quá trình phát triển” trên nguyên tắc quản lý hiện đại.

Ba,Trong công tác cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh: thành phố đã thực hiện thành công việc đăng ký kinh doanh qua mạng với đầy đủ thủ tục với thời gian rất ngắn, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp.

Bốn,Cho đến nay, thành phố đã xâydựng tốt đội ngũ cán bộ: ngày càng nhận thức đầy đủ hơn quyền lợi và trách nhiệm, nghĩa vụ của họ, luôn cố gắng xây dựng một môi trường, một cơ chế quản lý phù hợp hơn, “thân doanh nghiệp” hơn. Phải đánh giá rằng, đội ngũ cán bộ của các cơ quan, ban ngành trên địa bàn thành phố đã nỗ lực và cố gắng rất nhiều, đã tạo cho mình ý thức và phương pháp làm việc khá tốt và hiện đại, đã có những chuyển biến rất cơ bản khi thay đổi cách ứng xử từ cơ chế “xin – cho” sang việc hỗ trợ, hướng dẫn và tạo điều kiện là chủ yếu.

Năm, Thành phố đã làm khá tốt công tác tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ khởi nghiệp, thúc đẩy phát triển cho các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp mới nói riêng. Thành phố đã thiết lập mạng thông tin doanh nghiêp, đây là một trong những biện pháp được UBND thành phố quan tâm và tích cực thực hiện nhằm thực hiện công tác cải cách hành chính của mình, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận được các thông tin về chính sách, quy định, quy hoạch của thành phố và các văn bản liên quan nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong các hoạt động sản xuất – kinh doanh.

Sáu, Trong việc thực hiện các chính sách đất đai, thành phố cũng đã đi đầu trong việc thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật đến tường rào các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp. Ngoài ra thành phố còn thông qua các chương trình hơp tác kinh tế – xã hội liên vùng để xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tại các tỉnh lân cận như: Long An, Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Dương…

Bài học kinh nghiệm cho phát triển KTTN ở Việt Nam .

Từ những kinh nghiệm về phát triển KTTN của một số quốc gia trên thế giới có thể thấy rằng: ở các nước KTTN tuy có sự khác nhau về những đặc điểm riêng về lộ trình, nội dung và hình thức trong quá trình phát triển kinh tế tư nhân, nhưng đều có điểm chung là việc khẳng định tầm quan trọng của KTTN, đó là động lực quan trọng trong phát triển nền kinh tế quốc dân, tùy điều kiện và hoàn cảnh cụ thể mà phát triển khu vực này một cách phù hợp nhằm khai thác tối đa mọi tiềm năng của nó. Vìvậy, muốn phát triển kinh tế tư nhân như mong đợi thì bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam là

– Thứ nhất, bảo đảm sự ổn định, minh bạch và thuận lợi về môi trường đầu tư. Đây là điều kiện tiên quyết nhằm giảm thiểu những rủi ro cho vốn đầu tư tư nhân.Nhà nước cần xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, thông suốt và phù hợp với thông lệ quốc tế. Đồng thời, tạo ra môi trường xã hội thuận lợi, ủng hộ các nhà đầu tư tư nhân sẽ kích thích họ mở rộng đầu tư. Hệ thống pháp luật đầu tư phải đảm bảo sự an toàn về vốn và tài sản tư nhân, môi trường cạnh tranh lành mạnh, không có phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, hệ thống pháp luật được xây dựng càng chặt chẽ, cởi mở, càng hấp hẫn cho sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân.

– Thứ hai, hệ thống chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân phải mềm dẻo và hấp dẫn. Nhìn chung các quốc gia đều sử dụng một hệ thống chính sách khuyến khích phát triển bao gồm nhiều chính sách bộ phận để phát triển kinh tế tư nhân hội nhập kinh tế quốc tế thành công, nhưng trọng tâm vẫn là chính sách thương mại và chính sách tài chính – tiền tệ.

– Thứ ba, đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước đối với khu vực tư nhân. Một trong những điều gây phiền lòng các nhà đầu tư là thủ tục hành chính rườm rà, gây tốn kém thời gian và chi phí, làm mất cơ hội cho các nhà đầu tư. Bộ máy hành chính mà trực tiếp là các cơ quan quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân là phải thống nhất, gọn nhẹ, thủ tục đơn giản, công khai. Những quy định pháp lý cần phải đơn giản dễ hiểu nhất, đảm bảo tính nhất quán sẽ khuyến khích và củng cố niềm tin cho các nhà đầu tư ở tất cả các quốc gia. Để phát triển kinh tế tư nhân thì hoạt động xúc tiến thương mại luôn cần được chú trọng, hoạt động này phần lớn có sự hỗ trợ của chính phủ.Sự thành công của các quốc gia trên thế giới là những ví dụ điển hình.

– Thứ tư, phát triển đồng bộ, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng và quan tâm phát triển nguồn nhân lực, năng lực khoa học – công nghệ cho doanh nghiệp. Hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại là điều kiện vật chất hàng đầu, giúp cho các nhà đầu tư tư nhân nhanh chóng thông qua các quyết định và triển khai trên thực tế các dự án của mình. Hệ thống kết cấu hạ tầng đó phải giúp cho các chủ đầu tư sự thuận tiện, giảm chi phí về lưu thông.

– Thứ năm, các chính sách đối với kinh tế tư nhân phải phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước và từng giai đoạn phát triển của kinh tế tư nhân. Đối với các nền kinh tế “chuyển đổi” đặc biệt là Trung Quốc cho thấy nhân tố chính sách luôn đóng vai trò quyết định đối với phát triển kinh tế tư nhân.Trước hết cần xác định vị trí của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế. Nếu chính sách phát triển kinh tế tư nhân ở các nước tư bản chú trọng vào hỗ trợ phát triển thì ở Trung Quốc kết hợp chính sách hỗ trợ với việc tạo lập môi trường thể chế, tâm lý xã hội thích ứng với sự phát triển kinh tế tư nhân trong từng giai đoạn cụ thể là: làm thế nào để thay đổi quan niệm xã hội không đúng về kinh tế tư nhân, đẩy mạnh cải cách hành chính để các cơ quan Chính phủ các cấp phục vụ có hiệu quả, không gây phiền hà, sách nhiễu; có biện pháp hữu hiệu bảo vệ tài sản hợp pháp của tư nhân, có biện pháp ngăn chặn hiện tượng các cơ quan quản lý coi kinh tế tư nhân như “miếng mồi béo bở” tùy tiện thu lệ phí và xử phạt vô tội vạ.

Kết luận

Quá trình phát triển của khu vực kinh tế tư nhân hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém, hạn chế. Trong dó phải kể đến những vấn đề của môi trường kinh doanh thiếu bình đẳng. Theo CIEM (2015), tình trạng thiếu bình đẳng này đã lâu nhưng chậm được khắc phục khiến cho môi trường kinh doanh bất định nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp. Luật và việc thi hành luật có liên quan tới kinh tế tư nhân có nhiều rào cản, việc thực hiện chính sách không thống nhất gây ra những tranh cãi không đáng có giữa doanh nghiệp và các cơ quan công quyền.Bên cạnh đó, chi phí kinh doanh cao so với các nước trong khu vực làm hạn chế khả năng sinh lời, làm cản trở việc tích lũy vốn đầu tư mới. Bản thân khu vực kinh tế tư nhân nhìn chung còn nhỏ và yếu kém. Theo CNIF (2015), vốn điều lệ của doanh nghiệp nhóm này tăng chậm, đa số doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, chỉ có một số doanh nghiệp lớn có công nghệ hiện đại dẫn đến thiếu bền vững về lâu dài…

Đồng thời, các yếu tố như ý chí kinh doanh, tâm lý đầu tư vẫn còn thấp, việc tiếp cận tín dụng từ các ngân hàng tổ chức khó khăn và các yếu tố bên ngoài cũng như nội tại khác khiến cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển chậm. Do đó, việc nghiên cứu và đưa các giải pháp để thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân là việc làm bức thiết hiện nay. Đây cũng là chủ trương và quan điểm của Đảng tại đại hội XII (2016), nhằm tạo ra những đột phá mới thuận lợi cho phát triển của kinh tế tư nhân trong bối cảnh tinh thần “quốc gia khởi nghiệp” và hội nhập quốc tế của Việt Nam đang diễn ra sâu rộng, mạnh mẽ.

————————————————————-

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Trần Xuân Châu (2009), “Tìm hiểu quan niệm và cách tiếp cận về kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí khoa học. Đại học Huế, số 51
  2. Mai Tết, sự vận động và phát triển của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội 2006.
  3. Đảng cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội.
  4. Phan Minh Tuấn (2013), “Phát triển kinh tế tư nhân: Những vấn đề đặt ra” Tạp chí tài chính, số 6.
  5. Đảng cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội.
  6. TS. Vũ Hùng Cường (2010), “Kinh nghiệm phát triển khu vực kinh tế tư nhân Nhật Bản và vận dụng ở Việt Nam”, Tạp chí những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới (số 8).
  7. Đặng Minh Tiến, Vai trò và tác động của kinh tế tư nhân đối với sự nghiệpđổi mới đất nước, //www.vhdn.vn;
  8. GS.TS. Hồ Văn Vĩnh, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta, Tạp chí Lý luận Chính trị, 2007;
  9. Lê Duy Bình, Đậu Anh Tuấn, Phạm Ngọc Thạch, rà soát một số chỉ tiêu và chính sách nhằm nâng cao chất lượng doanh nghiệp tư nhân trong thập niên tới, Economica Vietnam, 2010;
  10. – Lê Văn Sang; cục diện kinh tế thế giới hai thập niên đầu thế kỷ XXI, 2005
  11. – Nguyễn Quang A (tuyển dịch), Lịch sử với những bài học; bài học chuyển đổi ở Đông Âu, Kornai jancos, 2008
  12. TS. Nguyễn Đăng Nam, Tài chính với sự phát triển kinh tế tư nhân, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, 2002;
  13. PGS. TS. Nguyễn Đình Tài, Khuyến khích phát triển khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam nhìn từ góc độ hiệu quả chính sách, www.vnep.org.vn, 2006
  14. Phạm Chi Lan, Phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hội nhập

quốc tế, //www.tapchicongsan.org.vn;

  1. Trần Bình, Khu vực kinh tế tư nhân – nguồn huyết mạch chưa khai thông,

www.vnep.org.vn;

  1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Văn kiện Đại hội VII, Văn kiện Đại hội VIII, Văn kiện Đại hội IX, Văn kiện Đại hội X;

Tài liệu tiếng Anh

  1. Chung Duck-Koo và Eichengreen Barry, The Korea Economy Beyond Crisis. 2004.
  2. Graham Bannock và cộng sự, Indigenous Private Sector Development and Regulation in Africa and Central Europe: A 10 Country Study, 2002
  3. ongliang Zheng và Yang Yang, Chinese private sector development in the

past 30 years: retrospect and prospect, Thông tin chuyên đề số 45, Đại học

Nottingham, Viện nghiên cứu chính sách Trung Quốc, 2009.

  1. -Jan Winiecki, The role of the new, entrepreneurial private sector in

transition and economic performance in light of the successes in Poland, the Czech Republic and Hungary – Thông tin chuyên đề, Viện nghiên cứu các nền kinh tế chuyển đổi, BOFIT, 2001

  1. Jwa, Sung-Hee, A New Paradigm for Korea’s Economic Development:

From Government Control to Market Economy, Palgrave.

  1. Kim, Ji-Hong, “Korean Experience and African Economic Development”, 2006.
  2. Kim, Joon-Kyung và cộng sự, “Trade, Investment and Economic Integration between South Korea and China: A Step toward East Asian

Regionalism”, 2005.

  1. Ngân hàng Hàn Quốc, “Sustaining Korean Economic Growth: A Way Forward”, 2004.
  2. OECD, Accelerating Pro-Poor Growth through Support for Private Sector

Development: An Analytical Framework, 2004.

  1. Olga GARANINA, Russia between transition and globalization, Trường đạihọc Pierre Mendes France of Grenoble (Pháp); Đại học Kinh tế và tài chính St Petersburg (Nga).
  2. Paths out of Poverty – The Role of Private Enterprise in Developing Countries, Cơ quan hợp tác tài chính quốc tế, Washington D.C. 2000
  3. Tcha, Moon Joong và Chung-Sok Suh, The Korean Economy at the

Crossroads, Routledge Curzon, 2003.

  1. Toshiki Kanamori & Zhijun Zhao, Private Sector Development in the

People’s Republic of China, Ngân hàng phát triển Châu Á, 2004

  1. WANG Zhikai, SHI Jinchuan, Private sector and China’s institutional

transition: with the case studies in Zhejiang and Jiangsu, Trung tâm nghiên cứu kinh tế tư nhân, Đại học Zhejiang, Hàng Châu, Trung Quốc

  1. The Growing Role of the Development Finance Institutions in International Development Policy, Copenhagen, 2010.