Tiềm năng sản xuất điện từ nguồn năng lượng sinh học

Print Friendly, PDF & Email

Đặc thù là một nước nông nghiệp, Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển năng lượng từ nguồn sinh khối. Việc làm này không chỉ giúp giảm bớt các chất thải ra môi trường mà còn góp phần đảm bảo an ninh năng lượng. 

Theo báo cáo “Nghiên cứu ngành hẹp để tận dụng năng lượng sinh học dùng cho phát điện và nhiệt” do Tổ chức Hợp tác phát triển Đức (GIZ) và Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương) vừa công bố, ngành chăn nuôi lợn, ngành giấy và bột giấy, và ngành tinh bột sắn có nhiều tiềm năng để sản xuất điện từ các phế phụ phẩm.

Nhà máy phát điện sử dụng bã mía bên trong Nhà máy đường Lam Sơn
Nghiên cứu được thực hiện trong vòng 6 tháng với sự tham gia của các chuyên gia trong nước và quốc tế. Dựa trên kết quả phân tích sơ bộ, 3 ngành có tiềm năng nhất được lựa chọn là: Chăn nuôi và chế biến thịt lợn, giấy và bột giấy, chế biến tinh bột sắn. Trong nghiên cứu này, nhóm chuyên gia đã thực hiện 15 chuyến khảo sát thực tế và 35 cuộc phỏng vấn sâu tại các trang trại, nhà máy của ba ngành hẹp trên cả nước.

Theo đó, quá trình nghiên cứu đánh giá trên nhiều phương diện: cấu trúc ngành; động lực thúc đẩy để thay đổi thực trạng sử dụng năng lượng sinh học, nhu cầu năng lượng (điện và nhiệt), kế hoạch kinh doanh nhằm nâng cấp và/hoặc đầu tư mới vào công nghệ đồng phát nhiệt và điện (CHP), và các rào cản chính đối với việc sử dụng năng lượng sinh học.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, ngành chăn nuôi và chế biến thịt lợn đang trải qua những thay đổi lớn và đang chuyển từ những kênh sản xuất thiếu tính liên kết sang các kênh mới do một số công ty lớn quản lý. Trong khi phần lớn các trang trại lợn đều có hệ thống xử lý chất thải giúp thu hồi khí sinh học thì mức độ sử dụng khí sinh học vẫn còn thấp.

Tuy nhiên, nếu ứng dụng công nghệ phát điện từ khí sinh học, các trang trại có thể có được lợi nhuận tài chính đáng kể. Số liệu từ một trang trại chăn nuôi tại tỉnh Quảng Trị cho thấy: Nếu sử dụng máy phát điện biogas, tỉ lệ lợi nhuận ròng trên tổng chi phí đầu tư cao và thời gian hoàn vốn ngắn.

Ngành giấy và bột giấy thu hút một lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn và đang chuyển dần sang những nhà máy quy mô lớn. Ngành giấy mỗi năm đóng góp 1,6 tỷ USD vào GDP quốc gia nhưng cũng là ngành tiêu tốn nhiều năng lượng. Ước tính, chi phí năng lượng chiếm 20 – 40% tổng chi phí sản xuất (phụ thuộc vào loại giấy). Trong khi các nguồn phế liệu, giấy rác, vỏ cây, dịch đen từ quá trình sản xuất bột giấy đang bị bỏ phí.

Nghiên cứu chỉ ra rằng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể ứng dụng sinh khối cho lò hơi để sản xuất ra hơi nước còn các doanh nghiệp lớn với nhu cầu hơi nước trên 50 tấn hơi/giờ có thể sử dụng hệ thống đồng phát điện và nhiệt thông qua lò hơi và tua bin hơi nước. Số liệu từ Tổng công ty Giấy Việt Nam cho thấy sử dụng công nghệ đồng phát nhiệt điện sẽ giúp giảm chi phí điện nhiều hơn so với phương án chỉ thay thế lò đốt than để phát nhiệt.

Ngành giấy và bột giấy có nhiều tiềm năng tận dụng năng lượng cho phát điện​
Với ngành chế biến tinh bột sắn, hầu hết các công ty đều có hệ thống hầm biogas để thu hồi khí sinh học từ nước thải, sau đó khí sinh học được đốt để sấy khô sắn và bã sắn. Cơ hội phát triển năng lượng sinh học bằng cách sử dụng công nghệ đồng phát nhiệt điện dành cho các nhà máy lớn hoặc ở các nhà máy khí sinh học sử dụng công nghệ tân tiến hơn. Kết quả tính toán cho một nhà máy với quy mô lớn ở tỉnh Tây Ninh cho thấy việc chuyển đổi khí sinh học thành điện năng sẽ đem lại lợi nhuận hấp dẫn cho nhà máy.

Ông Nathan Moore, Giám đốc dự án BEM, nhấn mạnh: “Việt Nam có nguồn sinh khối dồi dào để sản xuất năng lượng, đặc biệt là điện. Trong Quy hoạch Phát triển điện quốc gia 7 sửa đổi, mục tiêu phát triển điện sinh khối trong tổng sản lượng điện là 2,1% vào năm 2030. Đây là một nghiên cứu quan trọng, làm tiền đề cho việc tìm ra những ngành triển vọng, để thúc đẩy phát triển đầu tư vào ngành năng lượng sinh học tại Việt Nam. Những kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ các hoạt động tiếp theo của dự án, ví dụ như việc nghiên cứu tiền khả thi và hợp tác công nghệ”.

Nghiên cứu nằm trong khuôn khổ của dự án “Bảo vệ khí hậu thông qua phát triển thị trường năng lượng sinh học bền vững ở Việt Nam” (BEM) do GIZ phối hợp với Cục Điện lực và Năng lượng Tái tạo, Bộ Công Thương thực hiện. Dự án do Bộ Môi trường, Bảo tồn Thiên nhiên và An toàn Hạt nhân CHLB Đức (BMU) tài trợ. Nhằm giúp giảm thiểu phát thải khí nhà kính và hỗ trợ Việt Nam thực hiện đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), dự án BEM hướng tới cải thiện các điều kiện tiền đề cho việc sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên sinh khối để sản xuất điện và nhiệt trên cả nước.
Theo tietkiemnangluong.vn