Tăng cường mối quan hệ ba bên giữa Nhà nước – Doanh nghiệp nhà nước và Hiệp hội doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế, phát triển bền vững

767

Đặt vấn đề
Hiện nay, trong kỷ nguyên hội nhập sâu rộng đa ngành, đa lĩnh vực, sự phồn thịnh của một quốc gia không còn phụ thuộc chủ yếu vào tốc độ tăng trưởng kinh tế và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) mà đã dần chuyển dịch sang gắn kết ngày càng khăng khít với các quan niệm phát triển mới về nền kinh tế tri thức, hòa bình ổn định và phát triển bền vững, trong đó nhấn mạnh mối quan hệ giữa Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và các hiệp hội
doanh nghiệp (HHDN).

Xu thế quản trị quốc gia theo nguyên tắc phát triển bền vững
Đối với mỗi quốc gia, thể chế kinh tế là một trong ba trụ cột chính quyết định sự ổn định và phát triển đất nước. Một thể chế kinh tế tốt là thể chế kinh tế giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa lợi ích xã hội (tức lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân) với lợi ích tư nhân (các chủ đầu tư, chủ quản lý doanh nghiệp, tập đoàn). Đó là thực chất của mối quan hệ ba bên giữa Nhà nước với doanh nghiệp và các tổ chức xã hội (trong đó bao gồm các hiệp hội doanh nghiệp). Điều chỉnh các quan hệ lợi ích một cách hợp lý, cùng có lợi cho các bên là chức năng kinh tếcủa một Nhà nước pháp quyền. Trong đó, nguyên tắc dân chủ và đảm bảo nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường chính là 2 yếu tố song hành đảm bảo sự phát triển của một quốc gia.
Trên nền tảng nguyên tắc dân chủ và đảm bảo nền kinh tế phát triển theo cơ chế kinh tế thị trường, nhìn sâu hơn vào mối quan hệ ba bên giữa Nhà nước với doanh nghiệp (đặc biệt là các tổng công ty nhà nước và các tập đoàn kinh tế nắm giữ các ngành kinh tế trọng điểm) và các tổ chức xã hội (trong đó bao gồm các các hiệp hội doanh nghiệp), có thể thấy tính chất tương tác qua lại giữa ba yếu tố đã nêu như sau:
Thứ nhất, về mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Có thể thấy rằng trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, Nhà nước và doanh nghiệp có mối quan hệ gắn bó trực tiếp. Về bản chất đây là mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền với hệ thống doanh nghiệp, tiêu biểu cho mối quan hệ cơ bản của quá trình phát triển giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị của một quốc gia.Trong đó, các ngành kinh tế trọng điểm, mũi nhọn và liên quan đến an ninh quốc gia theo thông lệ trên hầu hết các quốc gia trên thế giới, đều được chính phủ nắm giữ thông qua các doanh nghiệp nhà nước mà cụ thể là tổng công ty nhà nước.
Thực tế hiện nay trên thế giới cho thấy, trong xu hướng quản trị quốc gia hiện đại theo các xuất phát từ học thuyết quản lý công mới (NPM), để đảm bảo nguyên tắc minh bạch, đặc biệt trong chi tiêu thuế, sử dụng ngân sách nhà nước,các nước (điển hình là Pháp và Mỹ) có thể giải thể tổng công ty nhà nước (chỉ giữ lại các tổng công ty nhà nước trong các lĩnh vực đảm bảo an ninh quốc phòng, năng lượng và lương thực), hoặc vẫn duy trì tổng công ty nhà nước nhưng tiến hành cổ phần hóa mạnh mẽ biến Tổng công ty Nhà nước thành Tổng công ty đa sở hữu hoặc xu hướng Tổng công ty trở thành một cổ đông trong công ty Trách nhiệm hữu hạn (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản) vv.v
Đối với các tập đoàn kinh tế, tập đoàn kinh tế thông thường không thuộc sở hữu của Nhà nước mà chỉ do Nhà nước quản lý (Singapo). Thay vào đó, tập đoàn kinh tế thông thường đa sở hữu về vốn, đa ngành, đa lĩnh vực về hoạt động, có thể có hoặc không có tư cách pháp nhân. Các tập đoàn kinh tế (Nhật Bản, Hàn Quốc) chính là những “người khổng lồ” có tác động rất lớn đến trình độ phát triển của quốc gia.
Thứ hai, xét mối quan hệ giữa Hiệp hội doanh nghiệp và các tổng công ty nhà nước và các tập đoàn kinh tế. Hiệp hội doanh nghiệp có vai trò đại diện quyền lợi cho các doanh nghiệp thành viên. Hiệp hội doanh nghiệp cầu nối giữa các đơn vị kinh tế ngoài nhà nước với cơ quan Nhà nước, đại diện cho tiếng nói và lợi ích của hội viên, là một kênh vận động chính sách, một đối tác tư vấn chuyên môn cho chính phủ và là một kênh thực hiện các quy chế dân chủ. Tổng công ty có thể là một thành viên của hiệp hội doanh nghiệp. Ngoài ra, giữa hiệp hội doanh nghiệp và tập đoàn kinh tế cũng có mối quan hệ gắn kết. Cụ thể như sau: Thông thường, tập đoàn kinh tế được định nghĩa chung nhất là một tập hợp các công ty, đa dạng về sở hữu trong đó có các công ty thành viên liên kết với nhau bằng nhiều mối quan hệ theo một quy tắc chung và các hợp đồng theo nguyên tắc tự nguyện. Một tập đoàn có thể có một số công ty mẹ – con (gia đình công ty), nhiều gia đình công ty liên kết thành tập đoàn. Tập đoàn kinh tế, không phải là một doanh nghiệp, nên không nhất thiết phải có tư cách pháp nhân. Trong trường hợp tập đoàn có tư cách pháp nhân thì đó là tư cách pháp nhân như một hiệp hội doanh nghiệp1.
Ngày nay, giá trị sản phẩm của các doanh nghiệp, bao gồm Tập đoàn kinh tế và Tổng công ty nhà nướcđều nằm trong xu thế hình thành chuỗi giá trị gia tăng ở phạm vi ngày càng rộng xét trên phương diện địa lý và ngành nghề kinh doanh. Việc khai thác lợi thế so sánh của mỗi nước, mỗi đơn vị kinh tế ngày càng có vai trò trong chuỗi giá trị ấy. Vì vậy, các quy định, cơ chế, chính sách do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các doanh nghiệp, đặc biệt là tổng công ty nhà nước, tập đoàn kinh tế nhà nước ngày càng phải hợp lý xét về các phương diện như cơ cấu tổ chức, hình thức quản lý, hay điều tiết lợi ích các bên trong mối quan hệ giữa ba bên Nhà nước – Doanh nghiệp – Tổ chức xã hội.Cân bằng mối quan hệ ba bên đó cũng chính là xu thế chung hiện nay trong quản trị nhà nước hiện đại.

Bối cảnh trong nước
Từ xu thế chung, xem xét bối cảnh Việt Nam trên cơ sở nguyên tắc dân chủ và nguyên tắc nền đảm bảo nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, có thể thấy một số điểm như sau:
Về tổng quát, mục tiêu đặt ra là “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.”2.Tinh thần trên được xác định đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong văn kiện Đại hội Đảng XII “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, p. 102). Xét mối quan hệ ba bên cụ thể từ từng góc độ của Nhà nước, Doanh nghiệp nhà nước và hiệp hội doanh nghiệp, có thể thấy như sau:
Về phía Nhà nước, từ Đại hội Đảng Đảng VI (năm 1986) cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) được bắt đầu từ Đại hội Đảng VI (năm 1986) và ngày càng được hoàn thiện.Đến nay, nhu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng trở lên bức thiết.
Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua bản Hiến pháp năm 2013 thể chế hóa cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), đồng thời đã kế thừa và phát triển các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2011). Khoản 1 Điều 51 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. 2. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật.” Hiến pháp năm 2013 không nêu cụ thể các thành phần kinh tế như Hiến pháp năm 1992, thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước về các thành phần kinh tế là chủ thể của nền kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, tự do kinh
doanh, cạnh tranh lành mạnh theo quy định của pháp luật, không phân biệt, đối xử giữa các thành phần kinh tế, các chủ thể kinh tế khác nhau, qua đó nhằm tăng cường dân chủ, huy động toàn diện, đồng bộ tất các các nguồn lực để xây dựng và phát triển đất nước.Như vậy có thể thấy, Nhà nước đã tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi để khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, tạo động lực khuyến khích đổi mới mô hình tăng trưởng và hòan thiện thể chế kinh tế.
Về phía các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước,theo quy định tại Nghị định số 99/2012/NĐ-CP, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ và Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước là doanh nghiệp do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, được Nhà nước đầu tư vốn điều lệ và quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp do các Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chuyển giao.Giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, khối doanh nghiệp nhà nước đã có nhiều đóng góp phát triển kinh tế-xã hội. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, giai đoạn 2006-2010: “đa số các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước phát triển về quy mô, hiệu quả từng bước được nâng lên, đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước; bảo đảm sản xuất, cung ứng nhiều sản phẩm hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cho nền kinh tế; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, nâng cao năng lực của nền kinh tế; đóng góp tích cực trong việc bình ổn giá, kiềm chế lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội, duy trì tăng trưởng và việc làm cho người lao động”. Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp đã đạt được, các tổng công ty và các tập đoàn kinh tế nhà nước đã cho thấy còn nhiều khiếm khuyết, bất cập, yếu kém trên nhiều khía cạnh trong đó có những mặt rất nghiêm trọng như Nghị quyết Trung ương 3, khóa IX của Đảng đã nhận xét: “Quy mô còn nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý, chưa thật sự tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt; nhìn chung, trình độ công nghệ còn lạc hậu, quản lý còn yếu kém, chưa thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh; kết quả sản xuất kinh doanh chưa tưng xứng với các nguồn lực đã có và sự hỗ trợ, đầu tư của Nhà nước; hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, nợ không có khả năng thanh toán tăng lên, lao động thiếu việc làm và dôi dư còn lớn”. Đồng thời, trong Báo cáo Tổng quan Việt Nam 2035 đã đưa ra nhận định “Phần lớn các doanh nghiệp nhà nước hoạt động thiếu hiệu quả. Tình trạng nhà nước đầu tư dàn trải, thiếu hiệu quả khiến cho năng suất thấp bao trùm trong cả nền kinh tế”(Báo cáo Tổng quan Việt Nam 2035, p. XXIV).Có thể thấy, hoạt động của các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế nhà nước chưa đem lại hiệu quả kinh tế, trong nhiều trường hợp còn thua lỗ dẫn đến phá sản (trường hợp của Tập đoàn kinh tế Vinashin, Tổng công ty hàng hải (Vinalines)).
Trước tình trạng trên, trong Kết luận số 78-KL/TW ngày 26/7/2010 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ cần phải“Đánh giá toàn diện hiệu quả hoạt động của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; sớm hoàn thành việc đánh giá lại giá trị vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước và việc xử lý nợ trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, có biện pháp làm lành mạnh tình hình tài chính doanh nghiệp”. Trong Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI của Đảngđã yêu cầu“ Đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Khẩn trương cơ cấu lại ngành nghề kinh
doanh của các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty nhà nước, tập trung vào một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế…”. Thủ tướng Chính phủ đã chủ trương đẩy mạnh tái cơ cấu
doanh nghiệp nhà nước nhằm làm cho doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu hợp lý hơn, tập trung vào ngành, lĩnh vực then chốt, làm nòng cốt để kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. Bên cạnh đó, việc tái cơ cấu nhằm nâng cao sức cạnh tranh, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đối với doanh nghiệp kinh doanh; hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội.
Từ đó cho thấy việc định hướng, xác định chiến lược phát triển doanh nghiệp nhà nước nói chung (tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước nói riêng) là rất cần thiết trên cơ sở đó đề xuất mô hình tổ chức, cơ chế quản lý phù hợp, hiệu quả hơn. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra trong bối cảnh hội nhập là phải gia nhập thị trường trong khu vực và trên thế giới, phải áp dụng cùng thông lệ, “luật chơi” của thế giới, không thể giữ mãi đặc thù của riêng mình mà không chịu hòa nhập. Trong thể chế kinh tế thị trường, xã hội dân sự là một trong ba trụ cột phát triển của nền kinh tế, xã hội một quốc gia. Do đó, trong tình hình mới, cần thiết tích hợp vai trò, vị trí của các tổ chức hội, hiệp hội, trong đó bao gồm hiệp hội doanh nghiệp, tạo thành mạng lưới gắn kết khối doanh nghiệp quy mô lớn và doanh nghiệp tư nhân để đảm bảo độ bao phủ toàn bộ thị trường, khắc phục nhược điểm của từng loại hình doanh nghiệp.
Về phía các hiệp hội doanh nghiệp:Hiệp hội doanh nghiệp thuộc loại các tổ chức xã hội-nghề nghiệp, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, chủ yếu đại diện cho tiếng nói, quyền lợi của các hội viên. Ở Việt Nam, hiệp hội doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ từ khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN và cho đến nay đã có khoảng gần 100 hiệp hội doanh nghiệp được cấp phép hoạt động trên phạm vi toàn quốc và liên tỉnh(VCCI, 2013). Bên cạnh vai trò đại diện quyền lợi cho các doanh nghiệp thành viên,hiệp hội doanh nghiệp cầu nối giữa các đơn vị kinh tế ngoài nhà nước với cơ quan Nhà nước, đại diện cho tiếng nói của các
doanh nghiệp, kiến nghị lên chính phủ, là một kênh vận động chính sách và tham mưu ý kiến chuyên môn ngành nghề phục vụ quá trình xây dựng văn bản pháp luật của Chính phủ. Tổng công ty có thể là một thành viên của hiệp hội doanh nghiệp. Ngoài ra, giữa hiệp hội doanh nghiệp và tập đoàn kinh tế cũng có mối quan hệgắn kết dựa trên những nét tương đồng về tư cách pháp nhân.Tập đoàn kinh tế không nhất thiết phải có tư cách pháp nhân. Tuy nhiên, nếu có tư cách pháp nhân thì thường có tư cách pháp nhân của một hiệp hội
doanh nghiệp. Đây cũng chính là một trong các yếu tố gây ra khó khăn trong công tác quản lý nhà nước đối với các tập đoàn kinh tế nói chung trên toàn cầu, đặc biệt là trong việc thu thuế.
Như vậy, trong mối quan hệ ba bên, mối quan hệ giữa hai đối tượng Doanh nghiệp nhà nước, cụ thể là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước và các hiệp hội doanh nghiệp không chỉ có mối liên hệ tương trợ lẫn nhau (doanh nghiệp cung cấp kinh phí cho hiệp hội, hiệp hội hỗ trợ tư vấn chuyên môn nghề nghiệp, đào tạo bồi dưỡng và liên kết mạng lưới hội viên phục vụ cho doanh nghiệp) mà còn có mối liên hệ về mô hình cơ cấu tổ chức mà Nhà nước cần cân nhắc để có các quy định điều chỉnh hài hòa lợi ích cho các bên như đã nêu trên.
Từ các xu hướng chung của thế giới, đối chiếu vào bối cảnh Việt Nam, để hướng tới đổi mới cơ chế tăng trưởng gắn với bền vững và hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có thể thấy sự cần thiết phải xem xét, nhìn nhận vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp trong đóng góp, kết nối khu vực doanh nghiệp tư nhân bù khuyết cho những lỗ hổng thị trường, nơi các doanh nghiệp quy mô lớn không thể với tới, từ đó hoàn thiện thể chế kinh tế, đảm bảo tiêu chí phát triển bền vững trong chiến lược phát triển tổng thể nền kinh tế -xã hội của nước ta trong thời kỳ mới./.

Nguyễn Đức Thắng – Nguyễn Thị Quỳnh Giang