Doanh nghiệp Việt với thương chiến Mỹ-Trung

24

Dịp kỷ niệm Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10), tại Cần Thơ, bà Phạm Chi Lan trình bày với các doanh nhân tiêu biểu ĐBSCL về “Vai trò doanh nhân trong phát triển đất nước”, trong đó phân tích những tác động của chiến tranh thương mại Mỹ-Trung tới Việt Nam và kiến nghị ứng xử.
THỰC TRẠNG DOANH NGHIỆP
Doanh nghiệp (DN) Việt Nam gồm khối DN ngoài nhà nước, nhà nước và đầu tư nước ngoài. Bà Phạm Chi Lan cho biết năm 2018, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế: DN ngoài nhà nước chiếm 42,08%, nhà nước 27,67%, đầu tư nước ngoài 20,28%, còn lại là các nguồn thu khác. Cũng năm 2018, đóng góp cho đầu tư phát triển: DN ngoài nhà nước 43,3%, nhà nước 33,3%, đầu tư nước ngoài 23,4%.
Riêng ngành chế biến, chế tạo năm 2017, DN ngoài nhà nước có tài sản chiếm 53% và doanh thu chiếm 35%, nhà nước 8% và 11%, đầu tư nước ngoài 39% và 54%. Hiệu quả kinh doanh của DN năm 2017, tỷ lệ lãi sau thuế trên tài sản của DN với DN ngoài nhà nước là 1,8%, nhà nước 2,2% và đầu tư nước ngoài 7%. Cũng thống kê năm 2017 cho thấy rủi ro vay nợ của các DN còn lớn: hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu ở DN ngoài nhà nước là 2,3 lần, nhà nước 4,2 lần, đầu tư nước ngoài 1,6 lần.
Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2018 là 1.424,9 nghìn tỷ đồng, gồm thu trong nước 80,6%, dầu thô 4,6%, cân đối từ xuất nhập khẩu 14,3%, viện trợ 0,5%. Trong đó, DN ngoài nhà nước đóng góp 14,7%, nhà nước 10,7%, đầu tư nước ngoài 13,1% và các loại thuế, phí, lệ phí, thu nội địa 42,1%. Dự toán thu ngân sách nhà nước năm 2019: DN ngoài nhà nước đóng góp 17,1%, nhà nước 12,6%, đầu tư nước ngoài 15,1% và thuế, phí, lệ phí, thu nội địa khác 28,5%, xổ số kiến thiết 2,1%, dầu thô 3,2%, thu cân đối từ xuất nhập khẩu 13,4%, viện trợ 0,3%, còn lại thu hồi vốn và lợi nhuận từ Ngân hàng Nhà nước.
Bà Phạm Chi Lan đánh giá, doanh nghiệp ngoài nhà nước có sức sống mãnh liệt, giải quyết được nhiều việc làm, đáng chú ý là đã phát triển ở ngành chế biến và chế tạo.
CHIẾN LƯỢC CỦA BA NƯỚC LỚN
Bà Phạm Chi Lan dẫn phân tích của Ngân hàng Thế giới: Tính chất của toàn cầu hóa đang thay đổi, dòng chảy thương mại và đầu tư chậm lại. Các chuỗi giá trị toàn cầu đã chín muồi dẫn tới thách thức các chiến lược xuất khẩu và tăng trưởng dựa trên công nghiệp chế tạo nhờ lao động giá rẻ.
Thương mại dịch vụ và dòng chảy dữ liệu qua biên giới tăng, chủ nghĩa bảo hộ tăng gây thêm rủi ro cho tăng trưởng, các nước giàu tăng đầu tư vào tự động hóa và các nền kinh tế mới nổi bắt đầu giảm công nghiệp hóa. Đặc biệt tốc độ tăng trưởng chậm lại ở các nước thu nhập trung bình khi tăng lương nhanh hơn tăng năng suất làm giảm năng lực cạnh tranh trong các ngành thâm dụng lao động giá rẻ. Trong bối cảnh đó, các nước lớn đã đưa ra chiến lược phát triển.
Trung Quốc nêu “Sáng kiến Vành đai Con đường”, dự định đầu tư 150 tỷ USD (cần 1.300 tỷ USD cho 10 năm tới), trong đó cho đường sắt 75 tỷ, đường bộ 18,4 tỷ, sân bay 17,5 tỷ, cảng biển và cảng sông 25,4 tỷ. Các lành lang kinh tế: Cầu lục địa Á-Âu, Trung Quốc-Mông Cổ-Nga, Trung Quốc-Trung Á-Tây Á, Trung Quốc-Bán đảo Đông Dương, Trung Quốc-Bangladesh-Myanmar-Ấn Độ, Trung Quốc-Pakistan.
Mỹ có “Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở ” nhằm phát triển tự do (các quốc gia khu vực tự do, người dân tự do), rộng mở (cởi mở đối với các giá trị chung, thương mại, hậu cần, đầu tư), quản trị và hợp tác (củng cố ASEAN và APEC như 2 trụ cột của cấu trúc khu vực dựa trên luật pháp quốc tế), can dự kinh tế (các chương trình cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy sáng tạo, thuận lợi cho các dự án kết nối, thúc đẩy các thỏa thuận thương mại tự do, bình đẳng và có đi có lại).
Nhật Bản có chiến lược với ba trụ cột: Phổ biến và định hình các giá trị cơ bản như thượng tôn pháp luật và tự do, an toàn hàng hải, hàng không; tăng cường sự phồn vinh kinh tế; đảm bảo hòa bình và ổn định.

Bà Phạm Chi Lan trình bày trước các doanh nghiệp tiêu biểu ĐBSCL

THƯƠNG CHIẾN MỸ-TRUNG
Cuộc chiến tranh thương mại này tác động trực tiếp đến nước ta, theo bà Phạm Chi Lan, trước hết là tác động của chủ nghĩa bảo hộ leo thang. Thuế quan tăng làm tăng chi phí đầu vào và giá sản phẩm cuối cùng dẫn tới GDP và thương mại toàn cầu suy giảm khiến cho tăng trưởng thương mại, xuất nhập khẩu và FDI ở Việt Nam sẽ khó khăn hơn, ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế. Những hệ quả bất định về môi trường đầu tư và thương mại toàn cầu làm dòng vốn rút chạy khỏi các thị trường mới nổi, các chuỗi cung ứng toàn cầu bị xáo trộn, FDI suy giảm.
Nước ta có nền kinh tế mở nên khó tránh những tác động trên. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất và nguồn nhập khẩu lớn nhất; Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, biến động ở hai nền kinh tế đó sẽ tác động tới thương mại của Việt Nam.
Bà Phạm Chi Lan cho hay, Việt Nam có thặng dư thương mại 41,5 tỷ USD với Mỹ, nhưng thâm hụt 21,3 tỷ USD với Trung Quốc trong năm 2017. Mức chênh lệch thương mại với cả 2 có thể tăng khi Việt Nam có thể bị Mỹ áp dụng các biện pháp nhằm giảm thâm hụt thương mại của họ; bị nghi ngờ và trừng phạt nếu để Trung Quốc “mượn xuất xứ” xuất khẩu sang Mỹ nhằm lẩn tránh thuế. Việt Nam có thể có sự chuyển hướng thương mại và thêm dòng đầu tư của Trung Quốc cùng các nước khác chuyển từ Trung Quốc sang, mang theo cả những cơ hội và thách thức mới
NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý
Theo bà Phạm Chi Lan, các DN nước ta cần chú ý là tăng xuất sang Mỹ thì cũng phải tăng nhập nguyên liệu và sản phẩm đầu vào từ họ. Cần đề phòng Trung Quốc dùng Việt Nam làm nước trung chuyển để xuất hàng Trung Quốc qua Mỹ dưới nhãn hiệu “Made in Việt Nam” để tránh thuế; chú ý 3 kênh chính là các DN có vốn đầu tư của Trung Quốc hoạt động ở Việt Nam, hàng Trung Quốc đổi thành nhãn hiệu Việt Nam hoặc nhãn hiệu nước thứ ba, Trung Quốc dùng các nước trung chuyển khác (như Campuchia).

Những vấn đề DN Việt Nam cần lưu ý: Tăng xuất khẩu sang Mỹ làm tăng xuất siêu nhanh, dễ gây phản ứng từ Mỹ, dễ bị Mỹ đánh giá là nước đối tác “thao túng tỷ giá hối đoái” (Tháng 5/2019 Mỹ đã xếp Việt Nam vào diện 9 nước “phải theo dõi”). Chú trọng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (Tháng 4/2019, Mỹ xếp Việt Nam vào diện 36 nước gây quan ngại về tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ). Cần cân nhắc việc sử dụng Hoa Vĩ và các công nghệ cao của Trung Quốc bị Mỹ cấm giao dịch.

Các DN nước ta cần theo dõi, kiểm soát để bảo đảm hàng xuất từ Việt Nam có đủ giá trị địa phương (local content) cần thiết; cần hiểu, giám sát lẫn nhau làm nghiêm túc, tránh gian lận để khỏi rơi vào “tầm ngắm” của Mỹ, gây tổn hại cho cả ngành hàng và nền kinh tế.
Với các hiệp hội DN để sát cánh hỗ trợ DN có hiệu quả, bà Phạm Chi Lan nêu một số kiến nghị. Trước hết, theo dõi diễn biến ở các thị trường, tác động thực tế trong nước và ở các ngành, kể cả diễn biến chính sách (điều chỉnh, ứng phó, chiến lược mới). Tiếp theo, có hành động phù hợp với thị trường trong nước; thị trường Mỹ, Trung Quốc và các quốc gia tham gia các hiệp định thương mại tự do; thị trường thứ ba (thị trường, sản phẩm, bạn hàng thay thế; công nghệ, mô hình kinh doanh mới).

Áp lực cạnh tranh có thể lớn hơn nữa khi chiến tranh thương mại Mỹ-Trung trở thành chiến tranh tiền tệ, các chuỗi cung ứng đứt gẫy, thị trường thế giới chia tách.

Các hiệp hội DN cũng cần sát cánh với Nhà nước để thúc đẩy cải thiện môi trường kinh doanh; hỗ trợ DN về thông tin, hướng dẫn, phòng chống gian lận trong thương mại và đầu tư; thực thi nghiêm túc các chính sách nhằm phát triển nội lực; thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại thông minh, vì lợi ích Việt Nam.
“Tóm lại, các hiệp hội DN tập trung sức nâng cao cho phía nhà nước và DN năng lực cạnh tranh, năng lực sáng tạo, năng lực kết nối, môi trường cho phát triển bền vững và bao trùm để vượt qua thách thức, tận dụng cơ hội phát triển”, bà Phạm Chi Lan kết luận.

THANH THÚY