Cần “đánh thức” số liệu quan trắc môi trường thủy sản

7

Trong chiến lược phát triển ngành thủy sản, công tác quan trắc môi trường và giám sát dịch bệnh rất quan trọng, được đặt ra từ năm 2001, đến nay đã xây dựng được mạng lưới rộng lớn. Tuy nhiên, chưa thành hệ thống đồng bộ nên hiệu quả kiểm soát dịch bệnh và môi trương chưa cao.

Tiến sỹ Lê Văn Khoa trình bày báo cáo

Ngày 8/3/2019, tại TP Cần Thơ, Tổng cục Thủy sản và Hội Nghề cá Việt Nam tổ chức hội thảo “Định hướng nâng cao hiệu quả công tác quan trắc môi trường, giám sát dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản”. Báo cáo chính vừa hoàn thành cuối tháng 2/2019, một nội dung của hợp phần thứ nhất trong 3 hợp phần thuộc dự án nâng cao chất lượng thủy sản nuôi trồng, tập trung vào tôm nước lợ và cá tra vùng ĐBSCL.
Báo cáo có tên “Đánh giá hiện trạng hoạt động quan trắc môi trường, giám sát dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản” do Tiến sỹ Lê Văn Khoa ở Học viện Nông nghiệp Việt Nam trình bày. Theo báo cáo, mạng lưới quan trắc ra đời năm 2001, của các cơ quan thuộc Bộ NN&PTNT; từ năm 2009 có thêm mạng lưới quan trắc của các địa phương; đến nay hình thành mạng lưới rộng khắp cả nước.
Quan trắc thiết lập chủ yếu tại vùng nuôi thủy sản tập trung (nhằm vào các đối tượng chủ lực như cá tra, tôm nước lợ, nhuyễn thể); vùng thường xảy ra dịch bệnh hoặc hiện tượng chết hàng loạt; vùng phục vụ lợi ích cộng đồng. Loại hình quan trắc là định kỳ, đột xuất và kết hợp giám sát ao nuôi. Vị trí quan trắc định kỳ được đặt tại các kênh cấp nước vào vùng nuôi, quan trắc đột xuất chỉ khi vùng nuôi xảy ra dịch bệnh, còn quan trắc kết hợp giám sát dịch bệnh được đặt tại ao nuôi. Từ năm 2016, có thêm hoạt động giám sát dịch bệnh trên cá tra và tôm nước lợ ở ĐBSCL.
Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản năm 2018, số điểm quan trắc môi trường trên tôm nước lợ hiện có 449 điểm, cá tra 137 điểm, nhuyễn thể 71 điểm, cá rô phi/cá lồng bè 239 điểm, tôm hùm 59 điểm được các nhiệm vụ khoa học của Tổng cục Thủy sản và địa phương thực hiện. Ngoài các cơ quan quản lý, các hộ dân và doanh nghiệp cũng tiến hành việc theo dõi các yêu tố môi trường trong ao và nguồn nước cấp và tình trạng sức khỏe của đối tượng nuôi trong trang trại.
“Hoạt đông quan trắc tiến hành trong nhiều năm đã xây dựng được mạng lưới và dữ liệu phong phú. Cơ chế quản lý nhiệm vụ quan trắc theo dạng nhiệm vụ khoa học, giao cho các Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản và Trung tâm nên không thể tiến hành hoạt động đầy đủ các tháng trong năm đặc biệt là giai đoạn đầu năm thường lớt phớt. Giai đoạn đầu năm này việc tiến hành quan trắc đột xuất khi môi trường có diễn biến bất thường là bất khả thi”, TS Khoa đánh giá.
Các đại biểu dự hội thảo thống nhất cho rằng, hiện vẫn còn thiếu sự phối hợp, liên kết chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp, người dân trong quan trắc, giám sát môi trường và dịch bệnh; thiếu việc chia sẻ các số liệu, thông tin môi trường, dịch bệnh. Các số liệu/thông tin thu thập chưa được tổng hợp, phân tích toàn diện để đưa các quyết định quản lý và áp dụng các kỹ thuật nuôi thích hợp.

Quang cảnh hội thảo

Các thông số quan trắc và giám sát dịch bệnh còn dàn trải. Hiện có tới 17-18 yếu tố môi trường được quan trắc, trong đó, một số yếu tố chưa cần thiết quan trắc vì thực tế có rất ít. Còn về tần suất quan trắc, hiện duy trì 2 tuần/lần đối với một số yếu tố như độ mặn, độ kiềm, pH là chưa hợp lý, mà cần dày hơn để hỗ trợ người nuôi trồng thủy sản kịp thời ứng phó các biến động bất lợi, hạn chế thiệt hại.
Cho nên thực tế, nuôi tôm nước lợ và cá tra ở ĐBSCL đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức về ô nhiễm môi trường, bùng phát dịch bệnh, lạm dụng kháng sinh, hóa chất trong quá trình nuôi, chất lượng sản phẩm thủy sản không đáp ứng yêu cầu thị trường, gây tổn thất kinh tế, ảnh hưởng tới sinh kế của người dân. Mặc dù, các cơ quan chính phủ, doanh nghiệp và hộ dân đã có nhiều nỗ lực trong quan trắc môi trường, giám sát dịch bệnh phục vụ nuôi tôm, cá tra nhưng hiệu quả trong việc kiểm soát dịch bệnh và môi trương chưa cao.
“Số liệu quan trắc còn thiếu sống động, cần “đánh thức” để làm cho sống động hơn”, nhiều đại biểu dự hội thảo bày tỏ. Phó chủ tịch Hội Nghề cá Việt Nam-Phạm Anh Tuấn nói, cần phân tích đầy đủ hơn về tương quan giữa các thông số môi trường, vi sinh vật gây bệnh có liên quan với việc phát sinh bệnh, dịch bệnh để có được khuyến cáo kịp thời và hiệu quả hơn. “Hiện nay, kết quả quan trắc gửi cho cơ quan quản lý thủy sản địa phương và hộ nuôi/doanh nghiệp dựa trên email, công văn và qua nhiều đầu mối nên kết quả quan trắc không có tính khuyến cáo hay cảnh báo kịp thời. Đề nghị là nên xây dựng hệ thống truyền tải thông tin một cách nhanh nhất tới hộ nuôi/doanh nghiệp qua mạng xã hội hoặc tin nhắn SMS”, ông Tuấn nhấn mạnh.

NGỌC HUYỀN