21 C
Hanoi
Thứ Bảy, 17 Tháng 1, 2026

Ước tính hệ số phát thải nhà kính (KHK) của Lưới điện Việt Nam năm (2025)  

Lê Hải Hưng 1, *, Nguyễn Đức Quyền*, Lê Thị Hải Thanh*, Phạm Ngọc Anh**

*Đại học Bách khoa Hà Nội; ** Bộ Nông nghiệp và Môi trường

1.Email: hung.leha@hust.e. Đt: 0972386898

Tóm tắt

Bài báo này trình bày phương pháp tính hệ số phát thải của lưới điện Việt Nam 2025 trên cơ sở sử dụng phương pháp “Kiểm kê khí nhà kính” theo hệ thống ISO 14064, và “Xác định vết carbon cho sản phẩm (Carbon FootPrint For Products)” theo ISO 14067. Phương pháp tính toán trong tài liệu này tương tự như cách tính toán hệ số phát thải của lưới điện Việt Nam cho năm 2021, 2023, 2024 của nhóm tác giả. Các dữ liệu hoạt động là sản lượng các loại hình phát điện trong năm 2025 tính bằng MWh, được trích dẫn từ Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch năm 2025, mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch năm 2026 tại Hội nghị tổng kết của Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) 2025. Hệ số phát thải KNK của các loại nguồn phát điện được sử dụng theo công bố của Ủy ban liên chính phủ về biến đối khí hậu (IPCC) và Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA. Kết quả tính toán cho biết hệ số phát thải của lưới điện Việt Nam 2025 là 0,6235 tCO2e/MWh và đã giảm 8,46% so với năm 2024 (0,6811tCO2e/MWh), cũng theo tính toán của nhóm tác giả.

Mặc dù phép tính sử dụng các công bố chính thống của cơ quan chức năng về sản lượng điện của Việt Nam 2025 và các tài liệu quốc tế, song kết quả của bài viết vẫn chỉ mang tính tham khảo. Hệ số phát thải KNK của lưới điện Việt Nam 2024 và 2025 sẽ do cơ quan chức năng tính toán, kiểm soát và công bố vào một thời điểm thích hợp. (Cần chú ý rằng, cho đến thời điểm này (10/01/2026), chúng tôi vẫn chưa cập nhật được hệ số phát thải KNK của lưới điện Việt Nam 2024 từ cơ quan chức năng)

Từ khóa: Hệ số phát thải khí nhà kính, Lưới điện Việt Nam 2025.

——————————-

Estimated Greenhouse Gas Emission Factor (GHG) of Vietnam’s Power Grid in (2025)

Le Hai Hung 1, *, Nguyen Duc Quyen*, Le Thi Hai Thanh*, Pham Ngoc Anh**

*Hanoi University of Technology; ** Ministry of Agriculture and Environment

  1. Email: hung.leha@hust.e. Tel: 0972386898

————————————–

Abstract

This paper presents a method for calculating the emission factor of Vietnam’s power grid in 2025 based on the “Greenhouse Gas Inventory” method according to ISO 14064, and the “Carbon Footprint for Products” method according to ISO 14067. The calculation method in this document is similar to the method used by the authors to calculate the emission factor of Vietnam’s power grid for 2021, 2023, and 2024. The operational data represents the electricity generation output of various power sources in 2025, in MWh, as cited from the Report on the Implementation Results of the 2025 Plan, and the Targets and Tasks of the 2026 Plan at the Vietnam Electricity Group (EVN) 2025 Summary Conference. The greenhouse gas (GHG) emission factors of the power generation sources used are based on those published by the Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC) and the International Atomic Energy Agency (IAEA). The calculation results indicate that the emission factor of Vietnam’s power grid in 2025 is 0.6235 tCO2e/MWh, representing a reduction of 8.46% compared to 2024 (0.6811 tCO2e/MWh), according to the authors’ calculations.

Although the calculations utilize official announcements from relevant authorities regarding Vietnam’s electricity production in 2025 and international documents, the results presented in this article are for reference only. The GHG emission factors for Vietnam’s power grid in 2024 and 2025 will be calculated, controlled, and published by the relevant authorities at an appropriate time. (It should be noted that, as of this date (January 10, 2026), we have not yet received the GHG emission factors for Vietnam’s power grid in 2024 from the relevant authorities.)

Keywords: Greenhouse gas emission factors, Vietnam’s power grid 2025.

——————————————

  1. GIỚI THIỆU

Hệ số phát thải khí nhà kính (KNK) của lưới điện quốc gia thực chất là khối lượng KNK được quy về CO2 tương đương (CO2e) khi sản xuất được một đơn vị điện năng hay “Dấu vết carbon” cho một đơn vị điện năng kWh, MWh hoặc GWh. Thông thường, lưới điện của mỗi quốc gia đều bao gồm hai loại nguồn phát điện là từ nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt) và các nguồn tái tạo (thủy điện, điện gió, điện Mặt Trời, điện từ biomass…). Hệ số phát thải KNK của lưới điện bằng tổng phát thải KNK của các nguồn phát chia đều cho tổng sản lượng điện trong năm. Hệ số phát thải KNK của lưới điện phản ánh độ “sạch” của lưới điện, theo đó lưới điện càng “sạch” nếu hệ số phát thải càng thấp, tức là các nguồn phát điện từ năng lượng tái tạo chiếm tỷ lệ cao trong hệ thống. Hệ số phát thải của lưới điện Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2024 được dẫn ra trong Bảng 1.

Bảng 1. Thống kê hệ số phát thải KNK của lưới điện Việt Nam từ 2014 đến 2024

Năm 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023
tCO2e/MWh 0,6612 0,8154 0,9185 0,8649 0,9130 0,8458 0,8041 0,7221 0,6766 0,6592

Bảng 1 cho ta thấy rằng: Trước 2014, tuy chưa có điện Mặt Trời, điện gió nhưng nước ta đã có một loạt nhà máy thủy điện công suất lớn như thủy điện Hòa Bình (công suất 1.920MW), Sơn La (công suất 2.400MW), Yaly (công suất 720MW), Trị An (công suất 400MW)…là điện tái tạo, chiếm một tỷ lệ rất lớn. Vì vậy, hệ số phát thải KNK của lưới điện 2014 khá thấp (0,6612 tCO2e/MWh). Giai đoạn 2015 – 2018, hệ thống điện được bổ sung một loạt các nhà máy nhiệt điện than như Quảng Ninh, Sông Hậu 1, Nhơn Trạch, Vũng Áng, Vĩnh Tân … nên hệ số phát thải KNK của lưới điện quốc gia tăng rất nhanh. Hệ số phát thải được coi là cao nhất trong lịch sử phát điện của Việt Nam là 0,9130 tCO2e/MWh vào năm 2018.  Kể từ 2019, các nguồn điện tái tạo như điện Mặt Trời, điện gió phát triển mạnh mẽ nên hệ số phát thải của lưới điện Việt Nam bắt đầu giảm dần theo từng năm. Theo tinh thần của Quy hoạch điện VIII, với mục tiêu giảm dần tiến tới chấm dứt sử dụng các nguồn điện hóa thạch và tăng dần, tiến tới hoàn toàn sử dụng năng lượng tái tạo để đạt mục tiêu Net-Zero vào năm 2050, chúng ta tin chắc rằng, hệ số phát thải KNK của lưới điện Việt Nam sẽ giảm dần, nghĩa là điện của chúng ta ngày càng “ xanh và sạch” hơn.

Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, hệ số phát thải của lưới điện Việt Nam còn ở mức  cao so với khu vực và thế giới. Hệ số phát thải KNK của lưới điện ở mức cao sẽ trực tiếp làm tăng “vết carbon” trên sản phẩm và có thể làm suy giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu vì khó vượt qua hàng rào CBAM (Carbon Boder Adjustment Mechanism: Cơ chế điều chỉnh carbon qua biên giới). Bạn đọc có thể đánh giá mức độ “sạch” của lưới điện Việt Nam so với các quốc gia điển hình tại Bảng 2.

Bảng 2. Hệ số phát thải KNK của lưới điện của một số quốc gia điển hình

Quốc gia Hệ số phát thải KNK (tCO₂e/MWh) Nguồn dẫn

 

Thái Lan 0,480 Electricity Maps / LowCarbonPower

 

Indonesia 0,660 – 0,700 Electricity Maps, MSCI Energy Transition
Philippines 0,600 – 0,650 Ember, Reuters

 

Malaysia 0,615 Carbon Footprint Ltd

 

Trung Quốc 0,555 Ember – Our World in Data

 

Hoa Kỳ 0,367 Ember – Our World in Data

 

CHLB Đức 0,363 Electricity sector in Germany – Wikipedia / Ember
Na Uy 0,18 Ember / Global Carbon Intensity Analysis
Bang Victoria (Australia) 0,850 MSCI/Electricity Maps (90 day avg), MSCI Institute
Bang Tasmania (Australia) 0,17 MSCI/Electricity Maps (90 day avg), MSCI Institute
Trung bình quốc gia Australia) 0, 498

 

MSCI/Electricity Maps (90 day avg) – MSCI Institute

 

  1. ƯỚC TÍNH HỆ SỐ PHÁT THẢI KNK CỦA LƯỚI ĐIỆN VIỆT NAM NĂM 2025

2.1. Hệ số phát thải KNK của các loại hình phát điện theo [2]

Bảng 3 thống kê hệ số phát thải KNK theo cả vòng đời của tất cả các loại hình phát điện hiện có trên thế giới ở các mức trung bình, thấp và cao theo thứ tự giảm dần. Ta có thể thấy rằng:

–  Ngay các loại hình điện tái tạo cũng không hoàn toàn sạch, nghĩa là xét trong cả vòng đời (theo cách tính của ISO 14067) thì chúng vẫn phát thải KNK. Ví dụ điện Mặt Trời có mức phát thải thấp là 13tCO2e/GWh nhưng ở mức cao cũng có thể đạt 731tCO2e/GWh, tương đương với mức trung bình của nguồn điện sử dụng dầu (733tCO2e/GWh). Điều này được giải thích là người ta đã sử dụng năng lượng khi khai thác nguyên liệu, chế tạo tấm pin Mặt Trời (Solar Panel) và xử lý nó sau khi hết hạn sử dụng. Hoặc đối với thủy điện, loại hình này cũng không phải là “sạch” tuyệt đối vì nếu xét cả vòng đời thì chúng vẫn phát thải vì hồ thủy điện đã làm mất rừng (giảm nguồn hấp thụ KNK) và đồng thời tạo nguồn phát thải khí mê tan trong điều kiện cây rừng bị phân hủy kị khí trong lòng hồ…

– Ở một trường hợp khác, nếu xét “sau ống khói” khi phát điện bằng biomas (trấu, viên nén, mùn cưa…), thì chúng phát thải nhiều KNK hơn ngay cả than non (Lignite). Tuy nhiên, trong Bảng 3, ta thấy hệ số phát thải KNK của điện từ biomass lại rất thấp, thậm chí thấp hơn cả điện Mặt Trời. Điều đó được giải thích là, khi xét trong vòng đời, các loại biomass (thực vật) đã hấp thụ một lượng lớn CO2 khi thực vật sinh trưởng và phát triển, nên đã được “trừ bớt” khi chúng làm nhiên liệu phát điện.  Vì vậy, chúng ta cũng hiểu tại sao biomass lại được coi là năng lượng tái tạo và việc sử dụng biomass làm nhiên liệu phát điện là một hình thái kinh tế tuần hoàn.

  Bảng 3. Hệ số phát thải KNK của các loại hình phát điện [2]

2.2. Sản lượng điện của Việt Nam 2025 [1]   

 Bảng 4. Sản lượng điện của Việt Nam 2025 (X triệu kWh)

Thứ tự Loại hình Kế hoạch Ước thực hiện So sánh
Với 2024 Với KH
1 Thuỷ điện 82.239 107.345 121,0% 130,5%
2 Nhiệt điện than 176.685 144.775 94,8% 81,9%
3 Tua bin khí 29.329 20.233 92,7% 69,0%
4 Nhiệt điện dầu 8.061 76 43,5% 0,9%
5 NL tái tạo 42.962 40.320 101,7% 93,9%
  Tr.đó: Điện gió 14.404 13.158 103,2% 91,3%
  Điện mặt trời 27.453 25.956 100,4% 94,5%
  Sinh khối 1.106 1.207 116,9% 109,1%
6 Nhập khẩu 7.673 9.637 187,3% 125,6%
7 Nguồn khác 553 420 94,2% 76,0%
      TỔNG 347.503 322.806 104,6% 92,9%

 

2.3. Tính hệ số phát thải KNK của lưới điện Việt Nam 2024

2.3.1. Kịch bản phát thải KNK thấp

TT Loại nguồn Sản lượng (MWh) Tỷ lệ

(%)

HSPT

(tCO2e /MWh)

Tổng lượng PT (tCO2e)
1 Thủy điện 107.345.000 33,25 0,002 214.690
2 Nhiệt điện than 144.775.000 44,85 0,756 109.449.900
3 Tua bin khí 20.233.000 6,30 0,362 7.324.350
4 Nhiệt điện dầu 76.000 0,02 0,547 41.580
5 Nhập khẩu 9.637.000 2,98 Không tính Không tính
6 Điện gió 13.158.000 4,08 0,006 78.950
7 Điện Mặt Trời 25.956.000 8,04 0,013 337.428
8 Sinh khối 1.207.000 0,37 0,010 12.070
9 Nguồn khác 420.000 0,13 Không tính Không tính
Tổng sản lượng 322.807.000      
Tổng sản lượng, không tính (5) và (9) 312.750.000      
Tổng phát thải của hệ thống, không tính (5) và (9)      117.508.968
Hệ số phát thải KNK=   117.508.968 tCO2e /312.750.000MWh = 0,3757tCO2e /MWh

 

2.3.2 Kịch bản phát thải KNK trung bình

TT Loại nguồn Sản lượng (MWh) Tỷ lệ

(%)

HSPT

(tCO2e /MWh)

Tổng lượng PT (tCO2e)
1 Thủy điện 107.345.000 28,73 0,026 2.790.970
2 Nhiệt điện than 144.775.000 49,48 0,888 128.560.200
3 Tua bin khí 20.233.000 7,10 0,499 10.096.270
4 Nhiệt điện dầu 76.000 0,05 0,733 55.710
5 Nhập khẩu 9.637.000 2,98 Không tính Không tính
6 Điện gió 13.158.000 4,13 0,026 312.110
7 Điện Mặt Trời 25.956.000 8,38 0,085 2.206.260
8 Sinh khối 1.207.000 0,33 0,045 54.315
9 Nguồn khác 420.000 0,13 Không tính Không tính
Tổng sản lượng 322.807.000      
Tổng sản lượng, không tính (5) và (9) 312.750.000      
Tổng phát thải của hệ thống, không tính (5) và (9) 144.075.835
Hệ số phát thải KNK = 144.075.835 tCO2e /312.750.000 MWh = 0,4607 tCO2e /MWh

 

2.3.2 Kịch bản phát thải KNK cao

TT Loại nguồn Sản lượng (MWh) Tỷ lệ

(%)

HSPT

(tCO2e /MWh)

Tổng lượng PT (tCO2e)
1 Thủy điện 107.345.000 28,73 0,237 25.440.770
2 Nhiệt điện than 144.775.000 49,48 1,310 189.655.250
3 Tua bin khí 20.233.000 7,10 0,891 10.027.600
4 Nhiệt điện dầu 76.000 0,05 0,935 71.060
5 Nhập khẩu 9.637.000 2,98 Không tính Không tính
6 Điện gió 13.158.000 4,13 0,124 1.631.600
7 Điện Mặt Trời 25.956.000 8,38 0,731 18.973.840
8 Sinh khối 1.207.000 0,33 0,101 121.910
9 Nguồn khác 420.000 0,13 Không tính Không tính
Tổng sản lượng 322.807.000      
Tổng sản lượng, không tính (5) và (9) 312.750.000      
Tổng phát thải của hệ thống, không tính (5) và (9)   245.922.030
Hệ số phát thải KNK =  245.922.030tCO2e /312.750.000 MWh = 0,7863 tCO2e /MWh

Chú ý: Trong các bảng trên, ta đã loại trừ điện nhập khẩu, và nguồn khác vì chúng chiếm tỷ lệ nhỏ và không có dữ liệu hệ số phát thải

  1. TỔNG HỢP CÁC PHƯƠNG ÁN LỰA CHỌN
Phương án Kịch bản thấp

(tCO2e /MWh)

Kịch bản trung bình

(tCO2e /MWh)

Kịch bản cao

(tCO2e /MWh)

0,3757 0,4607 0,7863
Trung bình 3 kịch bản 0,5409
Trung bình của kịch bản trung bình và cao 0,6235
Phương án tin cậy nhất 0,6235 tCO2e /MWh )   

 

  1. KẾT LUẬN NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ ĐỘ TIN CẬY CỦA KẾT QUẢ VÀ ĐỀ XUẤT

4.1. Kết luận

Hệ số phát thải KNK của lưới điện Việt Nam 2025 ước tính là 0,6235 tCO2/MWh.

4.2. Nhận xét đáng mừng.

Thứ nhất:  Hệ số phát thải của lưới điện Việt Nam 2025 tính trong bài báo này thấp hơn khoảng 8,46% so với năm 2024 (0,6811 tCO2/MWh). Điều này chứng tở lưới điện đã “xanh và sạch” hơn.  Lý do là 2025 tỷ lệ nguồn điện than đã giảm, chỉ bằng 94,8% so với 2024 và thủy điện tăng 121% so với 2024 (Bảng 4).

Thứ hai: Sản lượng điện 2025 tăng trưởng 4,6% so với năm 2024 (Bảng 4), trong khi đó GDP tăng 8,02% (Báo cáo của Chính phủ). Theo nhận thức của chúng tôi, đây là lần đầu tiên trong lịch sử, điện năng tăng trưởng thấp hơn GDP. Đây là một tín hiệu đáng mừng vì năm 2025 chúng ta đã sử dụng năng lượng điện hiệu quả hơn những năm trước. Mong rằng đây không phải là bất thường mà sẽ là xu hướng tiếp diễn trong những năm tiếp theo để chứng tỏ sự phát triển bền vững của ngành năng lượng nói riêng và nền kinh tế nói chung.

4.3. Đánh giá độ tin cậy của phép tính

Các kết quả trong lịch sử tính toán hệ số phát thải của lưới điện Việt Nam của  nhóm tác giả [3], [4], [5] so với với số liệu công bố từ Cục biến đổi khí hậu.

 

Năm

 

Cục Biến đổi khí hậu Tài liệu [3], [4] và [5]
Kết quả (tCO2e/MWh) Ngày công bố Kết quả (tCO2e/MWh) Ngày công bố
2021 0,7221 31/12/2022 0.7293 24/11/2022
2023 0,6592 03/12/2024 0,6559 06/8/2024
2024 Chưa công bố 0,6811 14/4/2025
2025 Chưa công bố 0,6235 Chờ đăng

Nhận xét: Kết quả tính toán của [3] và [4] trùng hợp khá tốt với các kết quả chính thống được công bố bởi Cục biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Vì vậy chúng tôi cũng hy vọng kết quả tính của năm 2024 và 2025 cũng sẽ một lần nữa trùng hợp với công bố sắp tới của cơ quan chức năng.

Hệ số phát thải của lưới điện Việt Nam 2025 không thể thấp hơn giá trị dự tính trên vì trên thực tế hệ số phát thải của các loại hình phát điện của Việt Nam đều ở mức phát thải KNK cao vì những lý do sau:

Thứ nhất: Nhiều nhà máy nhiệt điện than (là nguồn phát điện chủ lực) thuộc thế hệ cũ, hiệu suất thấp.

Thứ hai: Các nhà máy thủy điện (chiếm tỷ lệ lớn) cũng không được vận hành tối ưu vì nguồn nước không thật ổn định và nhiều nhà máy phải hoạt động theo chế độ “điều độ” của cơ quan điều độ hệ thống điện lưới quốc gia.

Thứ ba: Các nguồn điện năng lượng tái tạo là điện Mặt Trời và điện gió, chiếm tỷ trọng khá lớn, nhưng cũng có hiệu suất thấp do quá tải của lưới điện nên phải xả bỏ nhiều.

4.4. Đề xuất

Hệ số phát thải KNK của lưới điện quốc gia là một dữ liệu quốc gia rất quan trọng trong hệ thống các dữ liệu quốc gia. Hệ số này không những đánh giá “độ xanh, sạch” của lưới điện mà còn cung cấp dữ liệu cho hoạt động kiểm kê KNK của tất cả các tổ chức, doanh nghiệp trong cả nước theo Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg ngày 13/8/2024 về “Danh  mục các cơ sở phải thực hiện kiểm kê KNK (cập nhật).

Chúng tôi cho rằng, hệ số phát thải KNK trong năm của lưới điện quốc gia cần được công bố vào Quý I của năm tiếp theo. Điều này là hết sức cần thiết để EVN đánh giá được độ “sạch” của lưới điện và trên cơ sở đó đề ra kế hoach xanh hóa lưới điện. Ngoài ra, hệ số phát thải KNK của lưới điện cần được cập nhật để phục vụ hoạt động kiểm kê KNK cho các doanh nghiệp, nhằm tăng độ tin cậy khi thực hiện kiểm kê KNK. Thực tế, các đơn vị thực hiện kiểm kê KNK 2025, thậm chí là 2026 mà phải dùng hệ số phát thải của lưới điện năm 2023 là một điều khó chấp nhận.

Việc tính toán hệ số phát thải của lưới điện quốc gia, thực chất là việc tính vết carbon cho một MWh điện năng theo ISO 14067:2020. Việc tính toán (theo nhận thức của chúng tôi) là không quá khó khăn. Vì vậy, để làm tốt việc này, cơ quan chức năng cần tổ chức đào tạo, tập huấn cho tất cả các nhà máy phát điện để họ có thể tự thực hiện kiểm kê KNK và tính toán được vết carbon cho mỗi đơn vị điện năng của nhà máy mình và báo cáo kịp thời cho cơ quan chức năng. Khi đó cơ quan chức năng chỉ là người tổng hợp và tính toán hệ số phát thải cho lưới điện quốc gia. Toàn bộ công việc có thể được thực hiện online để có tốc độ xử lý nhanh và kịp thời. Nhóm tác giả cũng sẵn sàng tham gia vào việc này nếu được cơ quan chức năng yêu cầu.

——————————-

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. “Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch năm 2025, mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch năm 2026 tại Hội nghị tổng kết của Tập đoàn điện lực Việt Nam”; EVN 2025

[2]. https://www.world-nuclear.org/uploadedfiles/org/wna/publications/working_grou: “Life-cycle greenhouse gas emissions of energy sources”

[3]. Lê Hải Hưng; “Thử tính toán hệ số phát thải khí nhà kính của lưới điện Việt nam 2021”; nsti.vista.gov.vn: Công bố khoa học và công nghệ Việt Nam; Chỉ số đề mục: 87

[4]. Lê Hải Hưng; “Thử tính toán hệ số phát thải khí nhà kính của lưới điện Việt nam 2023”; Tạp chí ánh sáng và Cuộc sống, 6/8/2024

[5]. Lê Hải Hưng, Phạm Ngọc Anh, Nguyễn Đức Quyền; “Ước tính hệ số phát thải khí nhà kính của lưới điện Việt nam 202”; Báo Nông nghiệp và Môi trường, 14/4/2025

Bài viết liên quan

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM NHIỀU NHẤT