Tổng quan về tình hình kinh tế tư nhân tỉnh Thanh Hóa và phương pháp nghiên cứu

* Nguyễn Xuân Hưng

Đặt vấn đề: Kinh tế tư nhân Thanh Hóa vẫn được đánh giá là còn nhiều hạn chế, chưa phản ánh đúng tiềm năng kinh tế của tỉnh.Tốc độ phát triển kinh tế tư nhân còn chậm hơn so với tốc độ trung bình của cả nước cả về số lượng và chất lượng.Trong khi đó, tỉnh còn rất nhiều nguồn lực và tài nguyên chưa được sử dụng một cách hiệu quả.Vì vậy, việc thúc đẩy phát triển của kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh hiện nay có một vai trò to lớn, mang lại nhiều lợi ích kinh tế, xã hội, tạo đột phá trong phát triển kinh tế.

Từ khóa: Kinh tế tư nhân, Thanh Hóa, vốn hóa, Kinh tế, Xã hội, Nguồn lực, Tài nguyên, Giá trị sản xuất

*Tác giả:NCS. ThS. Nguyễn Xuân Hưng

Email: xuanhungnguyen@gmail.com

Đơn vị: Công ty Xuân Hưng

—————————————-

Ngày nộp: 25 tháng 3 năm 2019

Ngày đăng xuất: 15/5/2019.

——————————————

Tổng quan tình hình kinh tế xã hội tỉnh Thanh Hóa

Thanh Hoá nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Trung Bộ, các tỉnh Bắc Lào. Ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ, có hệ thống giao thông thuận lợi Đường bộ, thủy, đường sắt và đường không: Đường sắt xuyên Việt, các quốc lộ 1A, 10, 45, 47, 217, đường Hồ Chí Minh; Cảng biển nước sâu Nghi Sơn và hệ thống sông ngòi thuận lợi của lưu thông Bắc Nam, với các vùng trong tỉnh và đi quốc tế; Cảng hàng không quốc tế Thọ Xuân phục vụ nhu cầu đi lại cho du khách trong và ngoài nước.

Trong hơn 20 năm đổi mới, cùng với xu thế phát triển chung của cả nước, kinh tế của tỉnh Thanh Hoá đã từng bước ổn định và đang trên đà phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Đặc biệt từ năm 2001 trở lại đây, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội các giai đoạn 2000 – 2017, kinh tế của tỉnh có bước phát triển khả quan.

Thứ nhất,Cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế 

Một, Về tốc độ tăng trưởng:  bình quân 2001-2005 là 9,1%/năm; 11,29% giai đoạn 2006-2010; giai đoạn 2010-2015 là 11,8% trong đã nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,4%/năm, công nghiệp – xây dựng tăng 15,06%/năm và dịch vụ tăng 11,15%/năm trong giai đoạn 2010-2015. Điều đáng chú ý là tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh có xu hướng tăng dần vào các năm cuối kỳ của kế hoạch 5 năm, tạo đà tăng trưởng thuận lợi cho thời kỳ tiếp theo.Đặc biệt là trong giai đoạn 2010 – 2015tổng GDP của tỉnh các ngành dịch vụ và công nghiệp xây dựng có mức tăng trưởng nhanh hơn giá trị sản xuất ngành nông nghiệp.

Trong năm 2016,  tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) (1)năm 2016 theo giá so sánh năm 2010 ước tăng 9,05% so với cùng kỳ (năm 2015 tăng 8,39% so với cùng kỳ); trong đó ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,52%; ngành công nghiệp, xây dựng tăng 11,96%; các ngành dịch vụ tăng 8,83%; thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp tăng 9,16%. Trong 9,05% tăng trưởng của năm 2016, ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,45 điểm phần trăm; ngành công nghiệp, xây dựng đóng góp 5,11 điểm phần trăm; các ngành dịch vụ đóng góp 3,05 điểm phần trăm; thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp đóng góp 0,44 điểm phần trăm.

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2017 theo giá so sánh năm 2010 ước tăng 8,26% so với năm 2016; trong đó ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 1,81%; ngành công nghiệp, xây dựng tăng 11,98%; các ngành dịch vụ tăng 8,10%; thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp tăng 6,57%. Trong 8,26% tăng trưởng của năm 2017, ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,34 điểm phần trăm; ngành công nghiệp, xây dựng đóng góp 4,31 điểm phần trăm; các ngành dịch vụ đóng góp 3,33 điểm phần trăm; thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp đóng góp 0,28 điểm phần trăm.

Số liệu trên cho thấy, khu vực công nghiệp và xây dựng với tốc độ tăng 11,98%, đã đóng góp nhiều nhất vào mức tăng trưởng chung; trong đó, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 11,38% (riêng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,30%); ngành xây dựng tăng 12,97% so với năm 2016. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,81%; trong đó, giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp tăng 0,83%; lâm nghiệp tăng 5,08%; thủy sản tăng 5,96% so với năm 2016. Khu vực dịch vụ tăng 8,10%; một số ngành chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực dịch vụ có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 12,10%; bán buôn, bán lẻ tăng 10,66%; vận tải, kho bãi tăng 10,09%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,81%; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 4,03% so với năm 2016.

Hai, Về cơ cấu kinh tế năm 2017, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm tỷ trọng 17,68%, giảm 2,43%; khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 36,68%, tăng 1,33%; khu vực dịch vụ chiếm 41,37%, tăng 1,16%; thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 4,27%, giảm 0,07% so với năm 2016. Tổng sản phẩm theo giá hiện hành bình quân đầu người năm 2017 ước đạt 34 triệu đồng; tương đương khoảng 1.540 USD.

Cùng với tốc độ tăng trưởng, cơ cấu kinh tế của Thanh Hoá cũng từng bước chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp-xây dựng trong tổng GDP ngày càng tăng lên. Năm 2010, cơ cấu giữa 3 khối ngành nông lâm nghiệp – công nghiệp, xây dựng – dịch vụ trong tổng GDP của tỉnh là 27%-38,5%-34,5 so với 31,6%-35,1%-33,3% năm 2005 và 39,6%-26,6%-33,8% (năm 2000). Nền kinh tế của tỉnh đang hình thành rõ nét cơ cấu kinh tế: công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp. Đây là một kết quả đáng khích lệ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Đến năm 2017, tỷ lệ nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ tiếp tục có sự thay đổi theo tỷ lệ 12,15%; 56,69%; 31,141%. Tỷ trọng nông lâm nghiệp và thủy sản giảm mạnh giai đoạn 2000 – 2017 trong khi đó công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh. Như vậy có thể thấy, quá trình phát triển ngành của tỉnh vẫn tiếp tục tập trung cho phát triển công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu.

Thứ hai, Về nguồn nhân lực

Một, Về cơ cấu tuổi, lao động theo ngành nghề : Theo tổng điều tra dân số năm 2013, dân số Thanh Hoá là 3.442.000 người, trong đó dân số trong độ tuổi lao động là 2.281.000 người. Lao động làm việc trong các ngành kinh tế là 2.045.253 người (trong ngành Nông – lâm- ngư nghiệp là 940.816 người; trong ngành Công nghiệp – xây dựng là 593.123 người, trong ngành Thương mại – dịch vụ là 511.314 người). Đến năm 2014, số lao động trong tuổi tăng nhẹ lên2.282.800 người. Lao động trong ngành Nông – lâm- ngư nghiệp là 922.995 người (chiếm 43%); trong ngành Công nghiệp – xây dựng là 654.683 người (chiếm 31%), trong ngành Thương mại – dịch vụ là 568.822 người (chiếm 26%).  Bước sang năm 2015, lao động của tỉnh có xu hướng giảm xuống và tình hình di cư và thoát ly của các lao động trẻ tuổi. Ngành Nông nghiệp vẫn là ngành có tỷ lệ lao động lớn nhất 1.045.500 người (chiếm 47,9%); Công nghiệp – xây dựng chiếm vị trí thứ hai, 600.200 người (chiếm 27,5%) và ngành Dịch vụ là 536.900 người (chiếm 24,6%).

Hai, Về phân bổ lao động: Cơ cấu lao động giữa nam và nữ có sự thay đổi nhẹ trong giai đoạn 2005 – 2015. Trong năm 2005, lao động nữ là chủ yếu chiếm 52,32% thì tới các năm tiếp theo, tỷ lệ này đã giảm lần lượt 50,09%; 49,7% và 49,7% trong các năm 2010, 2014, 2015. Điều đó cho thấy giới tính của lao động không có thay đổi quá lớn. Đây cũng là một thuật lợi để các ngành kinh tế của tình sử dụng lao động một cách phù hợp. Đối với phân bổ theo khu vực thành thị và nông thôn. Có thể thấy, mặc dù đã có những thay đổi về chính sách của tỉnh về phát triển nguồn lực lao động và đầu tư cơ sở hạ tầng tuy nhiên lực lượng lao động ở khu vực nông thôn vẫn không giảm nhiều, năm 2005 có tới 90,17% số lao động làm việc tại khu vực nông thôn, nhưng đến năm 2015 vẫn còn 87,34% lao động làm việc tại nông thôn. Qua đó có thể thấy việc chuyển dịch cơ cấu lao động đang là công việc còn gặp rất nhiều khó khăn của tỉnh.

Ba, Về chất lượng lao động: Trình độ chuyên môn, kỹ thuật của lao động Thanh Hoá những năm qua đã được nâng lên rõ rệt, nhất là qua đào tạo nghề. Năm 2015 lao động chưa qua đào tạo đạt 55%, trong đó qua đào tạo nghề là 40,1%.

Tuy nhiên, nhìn vào mặt bằng chất lượng lao động của tỉnh và so với yêu cầu của thị trường lao động thì chất lượng nguồn lao động vẫn thấp, khó cạnh tranh khi tham gia thị trường lao động trong nước với yêu cầu lao động có trình độ tay nghề cao cũng như thị trường lao động ngoài nước trong xu thế hội nhập hiện nay.

Bốn, Về sử dụng lao động: Năm 2016, Thanh Hoá có khoảng 4.509 doanh nghiệp đang hoạt động (theo điều tra cầu lao động). Trong đó có 110 doanh nghiệp có vốn nhà nước; 62 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; 4.337 doanh nghiệp ngoài quốc doanh (doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần…) và 920 hợp tác xã. Các loại hình doanh nghiệp và hợp tác xã này có trên 280.000 lao động đang làm việc; ngoài ra còn có hàng chục ngàn hộ kinh doanh cá thể với hàng trăm ngàn lao động tham gia sản xuất kinh doanh, làm dịch vụ.

  Do khả năng bố trí laođộng mới làm việc tại chỗ trong các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp mức độ càng hạn chế nên hàng năm Thanh Hoá có hàng chục ngàn lao động di chuyển vào các khu công nghiệp và các tỉnh phía Bắc, phía Nam tìm việc làm. Cùng với đó, công tác xuất khẩu lao động trên địa bàn tỉnh cũng được đẩy mạnh, năm 2015 có 9.925 lao động đi làm việc ở nước ngoài đã góp phần nâng cao thu nhập, ổn định đời sống nhân dân trong tỉnh.

  Năm 2016với sự quan tâm và chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, các ngành, các cấp và sự quan tâm chỉ đạo của Bộ Lao động – TB và Xã hội, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 63.220 lao động (đạt 100,3% kế hoạch năm, bằng 103,3% so với năm 2015) góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị từ 3,8% năm 2014 xuống còn 3,7% năm 2016; tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn từ 6,8% xuống còn 6,7%.

Thứ ba, Về hạ tầng kỹ thuật:

Một, Về kết nối mạng lưới giao thông: Tình hình đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa, mạng lưới giao thông đường bộ được đầu tư xây phát triển khá đồng bộ gồm quốc lộ, tỉnh lộ, đường đô thị, đường giao thông nông thôn và đường chuyên dùng, với tổng chiều dài 20.149,15 km, đạt mật độ 1,81 km/km2 và 5917km/1000 dân, thuộc loại cao so với các địa phương khác và trung bình cả nước (0,77 km/km2 và 2.987km/1000 dân). Trong đó có 8 tuyến quốc lộ đi qua với tổng chiều dài 793 km, đây là các tuyến giao thông huyết mạch của tỉnh.

Toàn tỉnh hiện có 16.784 km đường giao thông nông thôn, trong đó 2.081,8 km đường huyện, 4.447,4 km đường xã và 9.989 km đường thôn, song nhìn chung chất lượng thấp. Hầu hết các đường liên huyện mới đạt tiêu chuẩn cấp V và cấp VI, đường liên xã, liên thôn thuộc loại A và B, mới có khoảng 22% đường giao thông nông thôn được rải nhựa hoặc rải bê tông , còn lại là đường cấp phối và đường đất, giao thông đi lại khó khăn.

Hai, Về mạng lưới giao thông: Mạng bưu chính. Đến hết năm 2016 toàn tỉnh có 91 bưu cục (gồm 1 bưu cục trung tâm, 27 bưu cục cấp II tại các trung tâm huyện và 63 bưu cục cấp III tại các khu vực, các thị tứ), 565 điểm bưu điện văn hoá xã và 59 đại lý đa dịch vụ, đạt bán kính phục vụ bình quân là 2,24 km/điểm; 100% các xã có điểm phục vụ bưu chính. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có 11 tuyến đường cung cấp thư cấp II, được thực hiện bằng ô tô chuyên dùng đảm bảo nhu cầu vận chuyển bưu chính đến tất cả các huyện thị và 127 tuyến đường cấp III với nhiều phương tiện đảm bảo nhu cầu vận chuyển bưu chính đến tất cả các xã.

Ba, Mạng viễn thông những năm gần đây đã được đầu tư nâng cấp, tạo điều kiện cho hoạt động dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển.Phương thức truyền dẫn chủ yếu là cáp quang. Trên địa bàn tỉnh hiện có 05 mạng điện thoại di động, trong đó 03 mạng sử dụng công nghệ GSM và 02 mạng sử dụng công nghệ CDMA, với 2.363 trạm thu, phát sóng BTS, đã phủ sóng thông tin di động ổn định cho 600/637 xã, phường, thị trấn (đạt 94,19%) trên địa bàn tỉnh.

 Bốn, Mạng Internet trên địa bàn hiện có 4 đơn vị cung cấp dịch vụ, mạng Internet tốc độ cao ADSL đã triển khai cung cấp dịch vụ truy nhập tại 27/27 trung tâm huyện, thị, thành phố. Với 610/637 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh. Năm 2009 toàn tỉnh có 55.139 thuê bao Internet tốc độ cao (Dial-up, ADSL), mật độ thuê bao quy đổi đạt 1,6 máy/100 dân.

Khó khăn và thuận lợi về kinh tế xã hội, địa lý đối với việc phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Thanh  hóa

Thuận lợi

Về điều kiện địa lý, Thanh Hóa là vùng có cả vùng núi, trung du, đồng bằng và biển, tài nguyên thiện nhiên phong phú, thuận lợi cho phát triển đa dạng các loại hình ngành nghề nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ khác nhau. Thanh Hóa là một trong địa phương nơi có tuyến đường quốc lộ huyết mạch và đường sắt Bắc – Nam chạy qua, là nơi trung chuyển hàng hóa cả bằng đường bộ, đường thủy và đường sắt. Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, Thanh Hóa đã đưa vào khai thác nhà ga hàng không Thọ Xuân, góp phần nâng cao khả năng vận tải hành khách, trung chuyển hàng hóa của toàn tỉnh.

Về thu hút đầu tư,Thanh Hóa cũng là nơi thu hút các nguồn đầu tư trong đó có đầu tư nước ngoài ở các ngành công nghiệp chế tạo, khai khoáng. Khu kinh tế Nghi Sơn là một trong những nơi có nguồn vốn đầu tư nước ngoài lớn, giải quyết được nhiều việc làm cho lao động trong tỉnh và tưng bước đào tạo lớp lao động có trình độ tiên tiến.

Về nguồn nhân lực lao động. Là một tỉnh năng động và có dân số trong thời kỳ tỷ lệ vàng, lực lượng lao động của tỉnh rất dồi dào và từng bước được cải thiện về trình độ là động lực rất lớn để phát triển kinh tế xã hội và giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp

Về Cơ sở hạ tầng, được xây dựng khá đầy đủ với hạ tầng đường, cầu cống, nước và mạng lưới viễn thông, internet. Đây là yếu tố quan trọng để chuyển dịch cơ cấu lao động cũng như kinh tế các ngành trong địa bàn tỉnh

Về Tăng trưởng khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đang có mức tăng trưởng ấn tượng, dần khẳng định vị thế quan trong trong quá trình phát triển của tỉnh. Đây cũng được xem là bộ phận được kỳ vọng sẽ tạo ra nhiều việc làm cho lao động trong thời gian tới và là nguồn thu ngân sách chủ yếu của tỉnh.

Về chính sách phát triển kinh tế tư nhânvà lao động việc làm, hiện nay tỉnh Thanh Hóa đã có nhiều chính sách về phát triển kinh tế tư nhân và lao động việc làm. Các yếu tố: Quy hoạch về đất đai, quy hoạch phát triển công nghiệp, nông nghiệp và tốc độ tăng trưởng các ngành đạt ổn định là yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế tư nhân.

  Khó khăn

Trong những năm tiếp theo kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp; kinh tế trong nước phục hồi chậm, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức do sức mua giảm; doanh nghiệp khó tiếp cận và hấp thụ vốn dẫn đến tình trạng nhiều người lao động thiếu việc làm, mất việc làm.

Hiệu quả việc làm tại các khu vực kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ còn thấp, biểu hiện ở thu nhập thấp và tính ổn định của việc làm thấp, nhất là ở khu vực nông thôn và lao động nông nghiệp, phụ thuộc nhiều vào thời vụ, thị trường bên ngoài.

Các doanh nghiệp tư nhân cũng gặp nhiều khó khăn khi thiếu thông tin về thị trường lao động, thị trường sản phẩm trong và ngoài nước, bên cạnh đó, lao động có tay nghề cao có số lượng còn hạn chế, tỷ lệ lao động thủ công, lao động nông nghiệp chuyển đổi còn lớn khiến công tác đào tạo, học nghề chuyển biến chậm.

Kết luận

Sự phát triển của kinh tế tư nhân Thanh Hóa vẫn được đánh giá là còn nhiều hạn chế, chưa phản ánh đúng tiềm năng kinh tế của tỉnh.Tốc độ phát triển kinh tế tư nhân còn chậm hơn so với tốc độ trung bình của cả nước cả về số lượng và chất lượng.Tính cạnh tranh thấp, giá trị vốn hóa, giá trị sản xuất và trao đổi hàng hóa thấp là những vấn đề mà khu vực kinh tế tư nhân phải đối mặt hiện nay.Trong khi đó, tỉnh còn rất nhiều nguồn lực và tài nguyên chưa được sử dụng một cách hiệu quả.Vì vậy, việc thúc đẩy phát triển của kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh hiện nay có một vai trò to lớn, mang lại nhiều lợi ích kinh tế, xã hội, tạo đột phá trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên để đạt được điều đó, cần có những nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh và để làm được điều đó, trước tiên cần phải nắm vững đặc điểm địa bàn tỉnh cũng như lựa chọn được phương pháp nghiên cứu phù hợp với có thể mang lại các nội dung nghiên cứu có chất lượng.

——————————————————-

(1)Tổng sản phẩm trên địa bàn(GRDP) là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh giá trị mới tăng thêm của hàng hoá và dịch vụ được tạo ra trên địa bàn tỉnh/thành phố trong một thời gian nhất định (6 tháng,  năm).

————————————————————–

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Trần Ngọc Bút, “Phát triển kinh tế tư nhân định hướng xã hội chủ nghĩa” (2002), Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội
  2. Đảng cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội.
  3. Đảng cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Hội nghị lần thứ IX Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội.
  4. Đảng cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứX, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội.
  5. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứXI, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội.
  6. Trần Xuân Châu (2009), “Tìm hiểu quan niệm và cách tiếp cận về kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí khoa học. Đại học Huế, số 51 (9)
  7. Điều 130 Luật Doanh nghiệp (2005), Bộ Tư pháp, tổ chức Dân chủ và Pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội (162)
  8. Nguyễn Xuân Khoát (2010), “Phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí khoa học. Đại học Huế, số 60
  9. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân)
  10. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Bố Trạch lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2011 -2015 Niên giám thống kê huyện Bố Trạch năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014
  11. Mai Tết – Nguyễn Văn Tuất – Đặng Danh Lợi (2006), “Sự vận động và phát

triển của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

  1. Phan Minh Tuấn (2013), “Phát triển kinh tế tư nhân: Những vấn đề đặt ra” Tạp chí tài chính, số 6
  2. Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa (2017), Niên giám thống kê tỉnh Thanh Hóa 2016

Bài viết liên quan

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM NHIỀU NHẤT