Chuyển dịch năng lượng công bằng

14

Trong xu thế chuyển dịch việc sử dụng năng lượng từ hóa thạch sang tái tạo sẽ ảnh hưởng tới lực lượng lao động và một nghiên cứu của bà Nguyễn Thị Hà là cán bộ quản lý chương trình Phát triển Xanh- GreenID cho những thông tin đáng quan tâm.

Điện gió ở tỉnh Bạc Liêu phát triển một vùng biển heo hút thành điểm du lịch thu hút khách gần xa

Việc làm trong chuyển dịch năng lượng
Xu hướng chuyển dịch sang năng lượng tái tạo (NLTT) trên thế giới đã diễn ra mạnh mẽ từ lâu, còn ở Việt Nam mới bắt đầu. Qua nghiên cứu của Hà cho thấy:
Môi trường làm việc trong ngành NLTT đã loại trừ các yếu tố độc hại và nguy hiểm như bụi than, khói, tiếng ồn, khí độc hại… thường thấy trong ngành điện than. Song có những yếu tố nguy hiểm khác xuất hiện như sập tháp, cánh quạt văng, điện cao thế – điện giật, xử lý thiết bị nặng, làm việc ở độ cao,… đối với công nhân ngành điện gió; quá nhiệt, nguy cơ bỏng nhiệt, cháy nổ, làm việc trong nắng gió, nóng do hấp thụ năng lượng ngành năng lượng mặt trời (bảo dưỡng, bảo trì, vệ sinh, dọn cỏ, lau pin …). Xét về độ sạch của bụi và khí độc trong không khí thì ngành NLTT tốt hơn nhiều so với ngành điện than. Nguy cơ bệnh nghề nghiệp ngành NLTT hiện được biết thấp hơn nhiều so với ngành điện than do môi trường không gây ô nhiễm, giảm phát thải khí các-bon và ít sử dụng nước hơn nhiệt điện.
Về mức lương, trong ngành NLTT phân cấp rất rõ. Những người kỹ sư lương rất cao trong khi công nhân bảo dưỡng, bảo trì lương không cao mặc dù cao hơn mức lương tối thiểu vùng, Ví dụ ở tỉnh Ninh Thuận, tỉnh đi đầu cả nước về NLTT, lương tháng Giám đốc khoảng 50 triệu đồng hoặc cao hơn; kỹ sư lắp ráp, thi công công trình 25-30 triệu; kỹ sư duy trì sau bàn giao công trình khoảng 15-16 triệu; công nhân bảo dưỡng, bảo trì (lau pin, cắt cỏ, vệ sinh) 5-5,5 triệu. Công nhân lắp láp công trình do nhà thầu trả công nhật, công giờ, khoảng 270.000 đ/ngày (công ngày) và 300.000 đồng ngày (công tuần), không hợp đồng lao động, không bảo hiểm y tế-xã hội-bệnh tật. Nhân viên kinh doanh công ty điện mặt trời ở Hà Nội 8-10 triệu; công nhân bảo trì, vận hành trang trại gió Bạc Liêu 5-6 triệu.
Thời gian làm việc: Hầu hết các lao động có thời gian làm việc theo tiêu chuẩn 8h/ngày tuy nhiên cán bộ kỹ thuật thường phải trực đêm. Các doanh nghiệp NLTT cho đến nay chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân, với tình hình thực thi pháp luật lao động Việt Nam chưa tốt có thể ảnh hưởng tới đảm bảo chất lượng việc làm trong ngành NLTT. Thực tế, có những doanh nghiệp chậm trả lương, không có phúc lợi bổ sung cho NLĐ, không có cả thiết bị bảo hộ cá nhân, chậm đóng bảo hiểm xã hội-y tế, không ký hợp đồng lao động với người lao động (công nhân xây lắp),… Hầu hết người lao động trong ngành NLTT đều không biết về quyền công đoàn của họ, cụ thể quyền về đối thoại và thương lượng tập thể. Nhiều nơi chưa có công đoàn hoặc nếu có, giám đốc là chủ tịch công đoàn; hầu như không có đối thoại và thương lượng tập thể giữa người lao động và người sử dụng lao động. Kỹ năng nghề cần thiết của lao động cho ngành NLTT còn đang thiếu hụt, dẫn đến chất lượng nhân lực của ngành này chưa cao. Lao động hầu hết được đào tạo tại doanh nghiệp và mới chỉ đáp ứng được ở trình độ kỹ thuật bậc trung, thiếu đội ngũ chuyên gia kỹ thuật bậc cao.

Việt Nam hiện dẫn đầu trong khu vực về điện năng lượng mặt trời, chiếm 44% tổng công suất ở Đông Nam Á

Cơ hội và thách thức “chuyển dịch công bằng”
Theo bà Hà, tác động của chuyển dịch năng lượng với các nhóm dễ bị tổn thương là tạo cơ hội việc làm cho người dân ở các vùng sâu xa tham gia vào một số công đoạn trong chuỗi sản xuất NLTT. Cơ hội giảm rủi ro với sức khỏe cộng đồng do giảm ô nhiễm khói, bụi và nguồn nước. Cơ hội phát triển và thu hẹp khoảng cách cho các địa phương có tiềm năng về NLTT nhờ cải thiện cơ sở hạ tầng, tạo việc làm mới, tăng thu nhập cho người dân và nguồn thu thuế cho địa phương. Tăng cường tiếp cận điện cho vùng sâu, vùng xa bằng giải pháp NLTT. Tuy nhiên, cần có chính sách và thực thi các giải pháp đồng bộ về đào tạo xây dựng năng lực cho cán bộ, phụ nữ và người dân địa phương để nắm bắt cơ hội việc làm mới
Thời gian qua, số lượng các dự án điện NLTT đăng ký và triển khai vượt xa mục tiêu chính sách đặt ra vào năm 2020 thể hiện sự quan tâm của giới đầu tư và khối doanh nghiệp. Một số vấn đề sinh kế của cộng đồng được đặt ra như việc thu hồi đất và giải quyết tái định cư cho người dân trong các dự án điện còn nhiều bất cập, thường phát sinh mâu thuẫn và dẫn tới ảnh hưởng xấu tới sinh kế và làm xói mòn lòng tin của người dân. Nên cần tăng cường thực thi các quy định của pháp luật về công khai thông tin, tham vấn trực tiếp và đạt được sự đồng thuận của cộng đồng. Cần nghiên cứu và áp dụng các giải pháp kết hợp sáng tạo cả về công nghệ và cách tiếp cận để đảm bảo người dân là một chủ thể được hưởng lợi và thúc đẩy chuyển dịch
Có 4 thách thức của chuyển dịch đã thấy rất rõ. Đó là nhu cầu sử dụng đất lớn có thể dẫn tới rủi ro xung đột đất đai nếu không có giải pháp căn cơ. Đảm bảo sinh kế, việc làm cho người dân của các cộng đồng địa phương bị ảnh hưởng bởi các dự án điện là một thách thức lớn. Việc đào tạo nghề và chuẩn bị nguồn nhân lực cho quá trình chuyển dịch, nhất là ở các địa phương còn chậm, chưa theo kịp nhu cầu của thị trường. Việc đảm bảo chế độ phúc lợi và quyền cơ bản ở nơi làm việc cho người lao động trong các doanh nghiệp năng lượng ngoài nhà nước cần có nhiều cải thiện.
Quá trình chuyển dịch NLTT đã nảy sinh khái niệm “Chuyển dịch năng lượng công bằng”. Chuyển đổi là từ phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu hóa thạch sang phát triển và ứng dụng NLTT và sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả. Điều đầu tiên cần khẳng định, đảm bảo an ninh năng lượng, giảm phát thải mà vẫn đảm bảo phát triển kinh tế, tăng cường tiếp cận năng lượng với mức chi phí hợp lý, tạo ra công ăn việc làm mới và có chất lượng cho các cộng đồng bị tác động bởi quá trình chuyển dịch. Gắn liền với chuyển dịch lao động, gắn với sự tham gia đa dạng của nhiều thành phần trong xã hội vào thị trường năng lượng, đòi hỏi sự điều tiết để đảm bảo lợi ích hài hòa của các bên liên quan.
Những khuyến nghị cụ thể
Nghiên cứu của bà Hà nêu 8 khuyến nghị, gồm 4 khuyến nghị về chính sách phát triển NLTT và 4 khuyến nghị đảm bảo quyền lợi cho người lao động.
1/Các lợi ích của chuyển dịch cần được tích hợp vào quá trình xây dựng các chính sách có liên quan cho giai đoạn sau 2020. 2/Cần thiết lập một cơ chế điều phối cấp Nhà nước để thúc đẩy hợp tác liên ngành, xây dựng lộ trình và tổ chức thực hiện kế hoạch chuyển đổi công bằng. 3/Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và thực thi một cách đồng bộ và nhất quán chính sách ưu tiên sử dụng hiệu quả năng lượng gắn với phát triển ngành năng lượng tái tạo, hạn chế việc đầu tư thêm các nhà máy sản xuất điện nhiên liệu hóa thạch đốt than. 4/Chính sách phát triển NLTT cần quan tâm cả quy mô tập trung, phân tán và tích hợp để vừa tránh xung đột về đất đai, vừa đảm bảo sinh kế và cơ hội hợp tác mới của người dân và các nhóm cộng đồng bị ảnh hưởng trong chuyển dịch năng lượng.
5/Cần có sự tham gia của người lao động, tổ chức đại diện người lao động và cộng đồng địa phương vào quá trình hoạch định và thực hiện chính sách về phát triển năng lượng tái tạo để đảm bảo sự chuyển đổi công bằng. 6/Ngành giáo dục, đào tạo nghề, công đoàn và chính quyền địa phương cần bám sát chính sách và thị trường để phát triển mới hoặc nâng cấp các chương trình đào tạo nhân lực, chuyển giao kiến thức, kỹ năng, công nghệ, hướng nghiệp, đào tạo nghề nhằm chuẩn bị nhân lực cho quá trình chuyển dịch năng lượng. 7/Nghiên cứu, đổi mới và sản xuất thiết bị chuyển đổi, lưu trữ và kết nối quản lý hệ thống điện năng lượng tái tạo nên là trọng tâm ưu tiên trong kế hoạch nội địa hóa các thiết bị và chuỗi sản xuất của ngành năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng. 8/Các cơ quan truyền thông và các tổ chức khoa học công nghệ, tổ chức chính trị xã hội tích cực tham gia phổ biến thông tin, truyền thông nâng cao nhận thức cho công chúng về những lợi ích, cơ hội cũng như thách thức của chuyển dịch năng lượng.

THANH HẢI