Sóc trăng: Phát triển chuỗi ngành hàng từ sản xuất tới lưu thông

12

Ở tỉnh Sóc Trăng, thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn mà tôm nuôi nước lợ là sản phẩm hàng đầu được lãnh đạo tỉnh chủ trương tập trung phát triển và nhiều doanh nghiệp cũng quan tâm đầu tư. Năm 2018, diện tích nuôi tôm nước lợ 56.160 ha, trong đó diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh 49.537 ha (chiếm 88,2%], lớn nhất ĐBSCL. Cụ thể, tôm thẻ chân trắng 32.678 ha (chiếm 58,1%], tôm sú 23.482 ha và diện tích thu hoạch 42.681 ha, tổng sản lượng 133.815 tấn với năng suất bình quân tôm thẻ chân trắng 4 tấn/ha, tôm sú 1,40 tấn/ha (thâm canh 3,5 tấn/ha, bán thâm canh 1,5 tấn/ha, quảng canh cải tiến 0,5 tấn/ha).
Phó giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Sóc Trăng-Huỳnh Ngọc Nhã cho biết, dù đã chú trọng quan trắc giám sát môi trường và ứng dụng công nghệ cao nhưng tình hình dịch bệnh vẫn phức tạp. Năm qua, có đến 13.373 ha (tôm thẻ chân trắng 7.532 ha, tôm sú 5.840 ha] chiếm 23,8% tổng diện tích thả nuôi bị thiệt hại. Nguyên nhân do môi trường chiếm 54,6%, còn lại do bệnh đốm trắng, hoại tử gan tụy, phân trắng.
Cũng theo ông Nhã, kết quả năm 2018 ngành nuôi tôm của tỉnh đạt được kế hoạch là nhờ tổ chức làm ăn tập thể, liên kết theo chuỗi. Đến cuối năm 2018 đã có 27 HTX với 1.218 thành viên nuôi 2.784 ha, 174 THT với 3.262 thành viên nuôi 3.341 ha. Trong đó, có 20 HTX/THT với 819 ha liên kết với các doanh nghiệp đầu vào và đầu ra; 27 đơn vị với 1.100 ha đạt các tiêu chuẩn ASC, GlobalGAP, VietGAP, BAP. Những hoạt động kết nối và thực hiện tiêu chuẩn chứng nhận đảm bảo truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm đưa lại hiệu quả kinh tế cao.
Kế hoạch nuôi tôm nước lợ của tỉnh Sóc Trăng năm 2019 so với năm 2018, giảm diện tích nhưng tăng sản lượng. Dự kiến diện tích 49.700 ha (tôm sú 23.000 ha, tôm thẻ chân trắng 26.700 ha], sản lượng 138.500 tấn (tôm sú 30.600 tấn, tôm thẻ chân trắng 107.900 tấn]. Giải pháp chủ yếu theo ông Nhã là tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, gắn với thị trường tiêu thụ. Vận động thành lập các HTX/THT, xây dựng mô hình hợp tác xã với các thành viên tham gia gồm người nuôi; người cung cấp thức ăn, thuốc, chế phẩm sinh học và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ.
“Tiếp tục phát huy vai trò của cơ quan quản lý trong việc gắn kết người sản xuất và các doanh nghiệp, xây dựng mối liên kết theo chuỗi ngành hàng từ sản xuất tới lưu thông. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận, hợp đồng liên kết cung cấp các dịch vụ nuôi và tiêu thụ sản phẩm trực tiếp với các HTX/THT, hạn chế qua các khâu trung gian để giảm giá thành, tăng thu nhập cho người nuôi và doanh nghiệp”, ông Nhã nhấn mạnh.

NGỌC HUYỀN