Khuyến nghị bảo vệ lao động di cư

Thời toàn cầu hóa, lao động di cư trong phạm vi quốc gia và cả quốc tế ngày càng sôi động, trở thành vấn đề xã hội đặt ra yêu cầu được pháp luật bảo vệ. Mới đây, “Báo cáo Kinh tế Thường niên ĐBSCL năm 2020” của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright (FSPPM); “Đánh giá sơ bộ Khung pháp lý của Việt Nam về thực hành kinh doanh có trách nhiệm” do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) Việt Nam phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện đã phân tích và đưa ra một số kiến nghị cụ thể.

Biến động dân số ở địa phương

“Báo cáo Kinh tế Thường niên ĐBSCL năm 2020” cho biết, tính đến 1/4/2019, dân số của 13 tỉnh ĐBSCL là 17,3 triệu người (chiếm 18% dân số cả nước). Xem xét biến động dân số giữa các vùng miền trong giai đoạn 2009 – 2019 cho thấy ĐBSCL cùng với Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền Trung (BTB&DHMT) là hai khu vực có tỷ trọng dân số ngày càng giảm dần.

Giao thông vùng ĐBSCL dịp Tết hàng năm thường tắc nghẽn vì lao động di cư quá đông về thăm quê

Đặc biệt, ĐBSCL là vùng duy nhất cả nước trong 10 năm qua có tốc độ tăng trưởng dân số bình quân hàng năm là 0%, trong khi tốc độ chung của cả nước là 1,1%, và ngay cả vùng BTB&DHMT cũng có tốc độ tăng dân số trung bình là 0,7% mỗi năm. Kết quả này do ảnh hưởng bởi ba yếu tố quan trọng. Thứ nhất, nguyên nhân chủ yếu là do tỷ lệ sinh thô hằng năm luôn ở mức thấp nhất, tỷ lệ chết thô luôn ở mức cao nhất; thứ hai, tỷ lệ nhập cư cũng thấp nhất cả nước; thứ ba, tỷ lệ xuất cư của vùng cao nhất cả nước.

Đáng báo động hơn khi nhìn vào xu hướng biến động dân số qua các năm. Tăng dân số tự nhiên và nhập cư mặc dù thấp nhất cả nước nhưng lại có xu hướng ngày càng giảm mạnh. Xuất cư tuy giảm dần trong giai đoạn 2014 – 2017 nhưng bắt đầu tăng mạnh trở lại vào 2018.

“Kết quả này đặt ra giả thuyết về điều kiện sống, việc làm và sinh kế của người dân tại ĐBSCL ngày càng khó khăn, dòng người rời đi khỏi ĐBSCL để tìm kiếm sinh kế tốt hơn là một quy luật tất yếu. Xu hướng này sẽ tiếp tục duy trì bởi các tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu, hạn hán, xây đập thủy điện thượng nguồn đến hoạt động sản xuất, chất lượng cuộc sống và môi trường tại ĐBSCL ngày càng biểu hiện rõ rệt. Trong khi sinh kế của người dân tại ĐBSCL chủ yếu gắn với các điều kiện tự nhiên và tập trung tại các vùng đất dọc sông Tiền, sông Hậu và cửa biển, những nơi chịu ảnh hượng trực tiếp và nặng nề của biến đổi khí hậu”, Báo cáo viết.

Các luồng di cư và khung pháp lý

Lao động không chỉ di cư từ vùng này sang vùng khác, theo “Đánh giá sơ bộ Khung pháp lý của Việt Nam về thực hành kinh doanh có trách nhiệm” thì còn có nhiều luồng nữa. Đó là di trú trong nước (di chuyển từ tỉnh, huyện hoặc đô thị này sang khu vực khác), người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và lao động di cư quốc tế ở Việt Nam. Bên cạnh, một mảng khác liên quan đến di trú là “Lao động cưỡng bức, Buôn bán người, Lao động gán nợ và Hôn nhân cưỡng ép.”

Lao động di cư còn chịu nhiều rủi ro

Người lao động di cư Theo Công ước của LHQ về Bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di cư và các thành viên gia đình họ, người di cư quốc tế được hiểu là các cá nhân sống và làm việc có hưởng lương tạm thời hoặc thường xuyên ở một quốc gia mà người đó không phải là công dân, hoặc quốc gia mà họ không được sinh ra và có một số mối quan hệ xã hội quan trọng. Để tăng cường hợp tác quốc tế trong vấn đề di cư, Việt Nam đã thông qua Thỏa thuận toàn cầu về Di cư hợp pháp, an toàn và trật tự của LHQ vào năm 2019, một công cụ để thúc đẩy di cư an toàn, có trật tự và thường xuyên, do đó bảo vệ quyền và lợi ích của người di cư. Chính phủ Việt Nam đã xây dựng một kế hoạch bao gồm 61 hoạt động cụ thể để thực hiện các mục tiêu trên. Kế hoạch được ban hành theo Quyết định 402/QĐ-TTg ngày 20/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ.

Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài có Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2006 (hay còn gọi là “Luật 72”). Việt Nam cũng đã ký kết một số thoả thuận song phương và biên bản ghi nhớ về lao động di cư với một số quốc gia, bao gồm Campuchia, Lào, Trung Quốc, Thái Lan, Angola, Nga và Síp. Các thỏa thuận này quy định về các loại việc làm, điều khoản thị thực làm việc, các nỗ lực chung nhằm chống buôn bán người, các vấn đề khác liên quan đến chính sách di trú và thực tiễn giữa Việt Nam và các nước đối tác.

Luật 72 quy định về giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm, cho phép người lao động khiếu nại hoặc tố cáo hoặc khởi kiện chống lại các hành vi bất hợp pháp trong việc đưa người lao động ra nước ngoài. Tuy nhiên, Luật số 72 đang được sửa đổi để đảm bảo phù hợp với Hiến pháp và các vấn đề mới liên quan đến lao động di trú quốc tế.

Lao động di cư quốc tế ở Việt Nam được ghi nhận chủ yếu trong Bộ luật Lao động, bao gồm một mục riêng về người nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

Khung thiết chế Bộ LĐTBXH là cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý lao động từ Việt Nam ra nước ngoài, cũng như người di trú trong nước và quốc tế tại Việt Nam. Cục Quản lý lao động ngoài nước và Cục Việc làm chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc quản lý lao động di cư từ Việt Nam sang các nước khác. Chính phủ Việt Nam đã thành lập các đơn vị quản lý lao động và văn phòng đại diện tại các quốc gia có số lượng lớn lao động di cư Việt Nam. Chính quyền địa phương và các cơ quan như Sở LĐTBXH được ủy nhiệm hỗ trợ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trở về.

Khuyến nghị có quy trình khẩn cấp

“Đánh giá sơ bộ Khung pháp lý của Việt Nam về thực hành kinh doanh có trách nhiệm” đưa ra khuyến nghị 8 nội dung. Đáng chú ý là nội dung thứ 8 có tính thời sự cấp bách: “Xây dựng các quy trình khẩn cấp để bảo vệ và duy trì quyền của người lao động di cư Việt Nam ở nước ngoài khi có khủng hoảng xảy ra, bao gồm các hướng dẫn, các biện pháp phòng ngừa về an toàn và sức khỏe, và khả năng hồi hương, ví dụ như trong bối cảnh đại dịch COVID-19”.

Còn 7 nội dung khác như sau:

1/ Phê chuẩn và thực hiện hiệu quả Công ước quốc tế về Bảo vệ quyền của người lao động di cư và thành viên của gia đình họ và các Công ước số 97, 143 và 181 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO).

2/ Xây dựng kế hoạch hành động để đạt được các mục tiêu Mục tiêu phát triển bền vững (SDG) và chia sẻ dữ liệu về việc giám sát thực hiện các SDG số 8.8, 10.7 và 10c về việc bảo vệ người lao động di cư.

3/Mở rộng phạm vi của Luật 72 cho cả người lao động di cư theo hợp đồng cá nhân hoặc không thường xuyên, phù hợp với khuyến nghị liên quan của Ủy ban về các Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của LHQ (CESCR).

4/ Sửa đổi Luật 72 để nghiêm cấm việc thu lệ phí và chi phí liên quan trong quy trình tuyển dụng lao động di cư, đảm bảo phù hợp với Công ước số 181 của ILO về Các cơ quan dịch vụ việc làm tư nhân.

5/ Hoàn thiện các cơ chế giải quyết khiếu nại và hỗ trợ pháp lý có tính đến tình trạng dễ bị tổn thương, tính di động và sự phức tạp của di trú, phù hợp với khuyến nghị của CESCR.

6/ Đảm bảo người di trú trong nước và gia đình của họ, bao gồm cả những người không có hộ khẩu, được hưởng tất cả các quyền được công nhận cho mọi công dân Việt Nam, phù hợp với khuyến nghị của Ủy ban Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ   của LHQ (CEDAW).

7/Sửa đổi Luật 72 có tính đến yếu tố giới và đáp ứng được nhu cầu đặc thù của phụ nữ và trẻ em gái di trú, phù hợp với khuyến nghị của Ủy ban CEDAW về vấn đề này.

Luật 72 quy định quyền của người lao động di cư theo hợp đồng lao động ở các quốc gia khác, và nghĩa vụ của các doanh nghiệp khi đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Luật cũng đặt ra Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước có mục tiêu phát triển và mở rộng thị trường lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp xử lý rủi ro.

                                                                             SÁU NGHỆ (giới thiệu)

 

 

 

 

 

 

Bài viết liên quan

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM NHIỀU NHẤT