Ai đã từng đi qua nơi giao nhau của đường Trưng Nữ Vương với Duy Tân, trong khuôn viên Điện lực Hải Châu, thuộc Tổng Công ty Điện lực Miền Trung của thành phố Đà Nẵng sẽ nhìn thấy một tấm bia lưu niệm khắc ghi dòng chữ “Nơi đây. Đêm 22, rạng ngày 23/01/1969 (Xuân Kỷ Dậu), 11 chiến sĩ thuộc Đại đội Đặc công -Biệt động Lê Độ (Mật danh 180) do đồng chí Thái Xuân Hổ – Chính trị viên phó đại đội trực tiếp chỉ huy đã dũng cảm tấn công vào Nhà máy đèn Liên Trì, diệt nhiều tên địch, gây tiếng vang lớn trên chiến trường Đà Nẵng”.

Tấm bia đã nhắc lại về một chiến công và cả sự hy sinh của những chiến sĩ trẻ ngay giữa lòng thành phố. Câu chuyện của một thời, nhưng vẫn còn sâu đậm trong trí nhớ của nhiều người lúc ấy.
Buổi lễ khánh thành công trình tái dựng Bia lưu niệm sự kiện đánh Nhà máy điện Liên Trì (Nhà máy đèn Đà Nẵng), có nhắc đến chiến công của Đại đội Đặc công – Biệt động Lê Độ với Chiến dịch “Quang Trung” Đợt II – X2, nhận nhiệm vụ thọc sau đánh 2 mục tiêu trong nội thành Đà Nẵng. Mục tiêu thứ nhất là đánh vào Ty cảnh sát Gia Long do đồng chí Nguyễn Đình Tham – Đại đội trưởng làm mũi trưởng, nhưng không nhận được vũ khí, nên trận đánh không thành. Mục tiêu thứ hai đánh vào Nhà máy điện Liên Trì do đồng chí Thái Xuân Hổ – Chính trị viên phó đại đội làm mũi trưởng chia làm 2 tổ. Phối hợp trận đánh có: Đồng chí Phạm Hồng Oanh – Đội trưởng đội Biệt động 2 – làm nhiệm vụ chuẩn bị địa điểm tập kết quân và vũ khí. Đồng chí Nguyễn Văn Lợi – Đội trưởng đội Biệt động 3 của Quận nhận vẽ sơ đồ nhà máy, hệ thống phòng thủ và quy luật hoạt động của địch, giúp xây dựng phương án tác chiến và đồng chí Lê Tự Bốn – cơ sở của cách mạng làm công nhân trong nhà máy – là người trực tiếp đưa cán bộ đi hợp pháp quan sát cụ thể mục tiêu xác định hướng tấn công sau đó tham gia cùng mũi đánh vào trung tâm nhà máy.
Theo kế hoạch, địa điểm tập kết là ngôi nhà 448/1 đường Trưng Nữ Vương, Đà Nẵng, đối diện với Nhà máy đèn Liên Trì.
Đồng chí Thái Xuân Hổ – người trực tiếp chỉ huy đánh vào Nhà máy đèn Liên Trì, nhớ lại:
“Nhận nhiệm vụ cấp trên, tôi cho triển khai đào hầm lấy vũ khí lên và trang vị ngay cho anh em. Trong đó có 2 khẩu B40 – nhưng không có đạn, chỉ có mấy chục quả lựu đạn, cơ số đạn AK thì đủ. Tôi cho người đi thám sát thành phố thì thấy động rồi. Một số anh em đã bị địch bắt.
Theo hiệp đồng đúng giờ G là 24 giờ nổ súng, nhưng do chuẩn bị chiến trường chung bị lộ, nên hơn 21 giờ thì lính Việt Nam Cộng hòa đến gõ cửa, khám nhà chúng tôi vừa tập kết. Tôi đã bố trí một tổ ở phía sau nhà, một tổ ở phía trước. Riêng tôi trang bị 1 khẩu súng K54 và 1 khẩu AK.
Địch đập cửa rầm rầm, mình không bật đèn trong nhà, nên nhìn qua khe cửa thấy bên ngoài đèn đường sáng trưng, lính tráng Cộng hòa rất rõ.
Không còn con đường nào khác, tôi quyết định cho nổ súng, diệt ngay tại chỗ 3 tên. Số còn lại bỏ chạy. Tên chỉ điểm là “tay” thợ hớt tóc bên đường, bị anh em “giáng” cho một quả lựu đạn. Anh Nguyễn Văn Thành và Đặng Xứng hy sinh. Tôi lập tức động viên anh em và nhanh chóng tổ chức đội hình chiến đấu tiêu diệt quân địch. Tấn công vào mục tiêu chính không thành do không có hỏa lực B40. Sau khi trấn tĩnh, lính Cộng hòa huy động lực lượng, tổ chức phản công, bao vây, bắn về phía ta, đồng chí Võ Thị Nhị bị thương nặng ở vùng bụng, sau đó hy sinh. Anh em vừa giải quyết thương binh vừa tổ chức đánh địch trên đường Trưng Nữ Vương và đường Hoàng Diệu từ khuya đêm 22 (mồng 4 tết Kỷ Dậu) cho đến rạng sáng ngày 23.02.1969 vừa hết đạn, vừa đói khát, tôi ra lệnh anh em sơ tán lực lượng và độc lập tác chiến. Theo sử liệu của biệt động Đà Nẵng ta tiêu diệt 30 tên địch và bắn bị thương một số tên. Phía ta hy sinh 3 đồng chí và 1 người mất tích là anh Lê Tự Bốn, cho đến nay vẫn không có tin tức gì. Những đồng chí còn lại đều bị địch bắt, tra tấn và đày đi Côn Đảo.”
Kể đến đây, anh Thái Xuân Hổ lặng đi. Đôi mắt nhìn xa xăm về cõi vô định. Tôi biết trong lòng anh đang dậy lên bao nỗi niềm thương nhớ anh em đồng đội. 11 người cầm súng ra đi, thì đã có 3 người hy sinh, 1 người mất tích, số còn lại bị tù đày. Cuộc chiến tranh thật khủng khiếp.
Bia lưu niệm giữa lòng thành phố còn đó, tên anh vẫn được khắc còn đó, mà mỗi lần qua đây lòng anh như quặn thắt, đau đớn. Ngày nào còn ở bên nhau, những lúc nói cười vui vẻ, chia nhau từng miếng cơm, manh áo… mà thoáng chốc mỗi người mỗi ngã, biệt ly. Ngày nào anh còn giả dạng công nhân thợ điện, nhảy lên xe chở gạch của ông Cửu Sang vượt qua đường cái, vượt qua các trạm đồn trú của lính Cộng hòa để vào được thành phố, hồi hộp, lo lắng và vui tươi khi về được nơi cơ sở nuôi giấu cách mạng của những bà mẹ, những người em trong thành phố.
Thời gian đã trôi qua vừa tròn nửa thế kỷ, nhưng ký ức trận đánh vào Nhà máy đèn Liên Trì thuở nào vẫn còn hằn lên trong trí nhớ của anh. Xin thắp một nén nhang cho những người đã nằm xuống cho Tổ quốc quyết sinh.
Trần Trọng Văn


