Vĩnh cửu giá trị lịch sử Cách mạng Tháng Mười!

31

Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 và sự ra đời của nước Nga Xô viết trên diện tích 1/6 Trái Đất đã làm cho chủ nghĩa tư bản không còn là hệ thống duy nhất của thế giới. Lần đầu tiên, giai cấp vô sản và nhân dân lao động bị áp bức đã bước vào thời đại làm chủ vận mệnh của chính mình. Ngày 30-12-1922, Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết được thành lập. Liên Xô đã trở thành một trong những siêu cường hàng đầu của thế giới. Bên cạnh đó, Liên Xô còn là thành trì của chủ nghĩa xã hội, của cách mạng thế giới và là nước đi đầu trong việc duy trì và bảo vệ hòa bình thế giới.
Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 và sự ra đời của nước Nga Xôviết trên diện tích 1/6 Trái Đất đã làm cho chủ nghĩa tư bản không còn là hệ thống duy nhất của thế giới. Lần đầu tiên, giai cấp vô sản và nhân dân lao động bị áp bức đã bước vào thời đại làm chủ vận mệnh của chính mình.

Cuộc Cách mạng vĩ đại của nhân loại!
Về ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Mười, nhân kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, trong bài viết “Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc” (Báo Sự thật (Liên Xô), ngày 28-10-1967), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn lại câu nói của V.I.Lênin: “Chúng ta có quyền tự hào và thực thế, chúng ta tự hào là chúng ta có vinh hạnh được bắt đầu xây dựng Nhà nước Xôviết và do đó, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới, thời đại thống trị của giai cấp mới, giai cấp bị áp bức trong tất cả các nước tư bản chủ nghĩa và ở bất cứ nơi nào cũng đang tiến tới một cuộc đời mới, tiến tới chiến thắng giai cấp tư sản, tiến tới chuyên chính của giai cấp vô sản, tiến tới giải phóng loài người khỏi ách tư bản, khỏi những cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa”(1).
Trong tác phẩm “Đường Kách Mệnh” được xuất bản năm 1927, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những nhận xét rất sâu sắc, toàn diện về cách mạng Tháng Mười: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi lại ra sức cho công, nông các nước và dân tộc bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đạp đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới”(2).
Trong bài viết “Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã viết rằng: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”(3).
Đầu tiên,Cách mạng Tháng Mười nổ ra dưới sự lãnh đạo của Đảng cách mạng tiên tiến nhất của giai cấp vô sản.
Thực tiễn cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga đã chỉ ra rằng, trong nội bộ phong trào công nhân Nga đã có phân hóa giữa những người Bônsêvích và những người Mensêvích(4). Những người Mensêvích có tư tưởng thỏa hiệp với giai cấp tư sản, chỉ muốn đánh đổ chế độ phong kiến, làm cách mạng dân chủ tư sản chứ không muốn tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Khi Cách mạng Tháng Hai 1917 thành công, lật đổ được Sa hoàng và lập ra Xôviết công – nông – binh thì chính những người Mensêvích, với 200 nghìn người, chiếm đa số trong các Xôviết đã ủng hộ giai cấp tư sản lên nắm chính quyền ở thủ đô và lộ mặt sự phản bội giai cấp. Thậm chí ngay cả trong nội bộ những người Bônsêvích cũng phân hóa, có cả những người không muốn khởi nghĩa và còn lộ cả tin khởi nghĩa cho chính phủ tư sản(5). Lúc đó Đảng Bônsêvích từ 24 nghìn người sau Cách mạng Tháng Hai 1917 đã phát triển lên thành 240 nghìn người với 162 cơ sở đảng ngay trước khi Cách mạng Tháng Mười diễn ra. Bởi vậy, sau Cách mạng Tháng Mười Nga, Lênin đã quyết định đổi tên Đảng Công nhân Xã hội Dân chủ Nga thành Đảng Cộng sản Nga (Bônsêvích) tại Đại hội VII (1918). Lênin tuyên bố: “Cần phải đuổi ra khỏi Đảng những kẻ gian giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu nhược và những người Mensêvích, tuy “bề ngoài” đã được phủ một lớp sơn mới, nhưng trong tâm hồn thì vẫn là Mensêvích”(6).
Thứ hai, liên minh công – nông và khối đoàn kết toàn dân là sự bảo đảm chắc chắn nhất cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười.
Ở nước Nga, vấn đề liên minh công nông được Lênin rất coi trọng. Công nhân Nga chiếm 10% dân số, năm 1913 là 12 triệu, trong đó 3,1 triệu là công nhân đại công nghiệp nhưng nông dân Nga lại chiến 4/5 dân số, 65% số hộ ở nông thôn là bần nông. Chính số công nhân đại công nghiệp và nông dân bần nông là lực lượng nòng cốt cho cách mạng. Lênin viết: “Nội dung xã hội của cuộc cách mạng sắp nổ ra ở nước Nga chỉ có thể là nền chuyên chính dân chủ cách mạng của giai cấp vô sản và nông dân. Cách mạng không thể thắng lợi ở nước Nga nếu không lật đổ được chế độ quân chủ và bọn địa chủ phong kiến. Song giai cấp vô sản không thể lật đổ chúng nếu không được nông dân giúp đỡ”(7).
Do đó, đến tháng 10-1917, đội ngũ Cận vệ đỏ – lực lượng vũ trang nòng cốt của cách mạng, đa số là công nhân và nông dân giác ngộ cách mạng đã có số lượng lên tới 200.000 người trong các nhà máy, khu phố ở 146 thành phố trên khắp nước Nga. Riêng ở Petrograt, thủ đô của nước Nga Sa Hoàng, đội ngũ Cận vệ đỏ đã có khoảng 20.000 người. Ngoài ra còn có lực lượng quân đội cách mạng, binh lính thủy thủ hạm đội Baltic cũng đã ngả về phía những người khởi nghĩa. Cùng với sự ủng hộ của tầng lớp nhân dân lao động, chính lực lượng này đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Cách mạng Tháng Mười (1917) ở Nga kết thúc thắng lợi dưới hình thức cuộc tổng khởi nghĩa do đông đảo quần chúng nhân dân tiến hành với nòng cốt là liên minh công – nông.
Thứ ba, Cách mạng Tháng Mười sử dụng bạo lực cách mạng chống bạo lực phản cách mạng, giành chính quyền và bảo vệ chính quyền.
Trong thời kỳ hoạt động cách mạng, Lênin đã dạy: “Không bao giờ được đùa với khởi nghĩa”, rằng “một khi đã bắt đầu khởi nghĩa thì phải hết sức quyết tâm hành động và dù sao cũng tuyệt đối phải chuyển sang tấn công. Phòng ngự là con đường chết của khởi nghĩa vũ trang”(8). Chính vì vậy, Cách mạng Tháng Mười đã nổ ra dưới hình thức bạo lực cách mạng vì giai cấp tư sản rất ngoan cố, chúng không dễ dàng gì giao chính quyền về tay các Xôviết và chúng đã ra lệnh khủng bố các cơ sở của Đảng Bônsêvích. Lênin viết: “Từ nay quyền lực quân sự, và do đó cả quyền lực nhà nước, thực sự điều chuyển sang tay phe phản cách mạng do bọn Dân chủ lập hiến đại diện và được bọn Xã hội cách mạng và bọn Mensêvích ủng hộ. Từ nay không còn có khả năng phát triển hòa bình cuộc cách mạng ở nước Nga nữa và lịch sử đặt vấn đề như thế này: hoặc là phe phản cách mạng hoàn toàn thắng lợi, hoặc là có một cuộc cách mạng mới”(9).
Thứ tư, Cách mạng Tháng Mười và nghệ thuật chọn đúng thời cơ khởi nghĩa.
Các Mác và Ph.Ăng-ghen nhận định rằng, thời cơ nổi dậy của quần chúng giành lấy quyền lực về tay mình là lúc xảy ra khủng hoảng kinh tế, xã hội, chính trị, bọn cầm quyền suy yếu, quần chúng cơ bản và đội tiền phong sẵn sàng hành động, các lực lượng trung gian đã ngã về phía cách mạng. Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 đã nổ ra và thắng lợi trong thời cơ đó. Tới giữa tháng 9 -1917, Lênin nhận định: “Hiện nay, tình thế đã thay đổi khác hẳn. Chúng ta đã giành được đa số trong giai cấp đứng làm đội tiên phong của cách mạng, đội tiên phong của nhân dân và có khả năng lôi cuốn quần chúng theo mình. Chúng ta đã giành được đa số trong nhân dân. Thắng lợi chắc chắn thuộc về chúng ta”(10).
Đó là vào ngày 7-10-1917, khi tình hình trong nước Nga đã trở nên thuận lợi, thời cơ cách mạng bùng nổ và giành thắng lợi đã xuất hiện và đi vào chín muồi, Lênin bí mật trở về nước trực tiếp lãnh đạo vạch kế hoạch khởi nghĩa và dự kiến sẽ phát động tổng khởi nghĩa cướp chính quyền vào ngày 25-10-1917 (theo lịch cũ của Nga). Thế nhưng bọn phản động đã bí mật báo cho kẻ thù biết trước kế hoạch khởi nghĩa nên chính phủ tư sản phản động do Aleksandr Kerensky đứng đầu đã khẩn cấp đối phó. Việc chạy đua với thời gian để giải quyết vấn đề ai thắng ai lúc này là hết sức cần kíp, mau lẹ. Nếu chỉ chậm trễ một phút thôi cũng có thể thất bại hoàn toàn. Trước tình huống đó, Lênin chủ trương phải khởi nghĩa ngay trong ngày 24-10-1917, vì nếu để cách mạng diễn ra đúng như kế hoạch, tất yếu sẽ thất bại và Người nhấn mạnh: “Vô luận trong trường hợp nào, vô luận vì một lý do gì, cũng không được để chính quyền nằm trong tay Kerensky và đồng bọn cho đến ngày 25; việc đó phải giải quyết ngay chiều hôm nay hay trong đêm nay. Lịch sử sẽ không tha thứ cho những người cách mạng hôm nay có thể chiến thắng (và nhất định sẽ thắng lợi hôm nay) mà lại để chậm trễ, vì nếu đợi đến ngày mai thì không khéo sẽ mất nhiều, không khéo lại bị mất tất cả… Lịch sử tất cả các cuộc cách mạng đã chứng minh điều đó. Và những người cách mạng sẽ phạm một tội ác vô cùng lớn, nếu họ bỏ lỡ mất thời cơ”(11). Thực tế đã chứng minh điều này. Bởi không khởi nghĩa sớm khi thông tin khởi nghĩa đã bị lộ, cách mạng sẽ bị tổn thất nặng nề dù có thành công, đúng như Lênin đã chỉ ra là “sẽ mất nhiều và có thể mất hết”.

Thành tựu vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười
Ngay sau khi Cách mạng tháng Mười thắng lợi vào ngày 7-11-1917, ngày 8-11-1917, Lênin được Đại hội Xô viết Nga bầu làm Chủ tịch Hội đồng Dân ủy nước Nga Xô viết. Theo Lênin, nhiệm vụ hàng đầu của giai cấp công nhân và giai cấp nông dân Nga là phải đập tan hoàn toàn bộ máy Nhà nước cũ của giai cấp tư sản và giai cấp địa chủ, khẩn trương xây dựng bộ máy nhà nước mới của nhân dân lao động. Và đến ngày 30-12-1922, Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết được thành lập. Đại hội đã bầu Lêninlàm Chủ tịch Hội đồng dân uỷ Liên Xô. Đây là thắng lợi của chính sách dân tộc theo chủ nghĩa Lênin.
Lênin nhấn mạnh: “Trong bất cứ cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nào, khi giai cấp vô sản đã làm xong nhiệm vụ giành được chính quyền rồi, và trong chừng mực mà nhiệm vụ tước đoạt những kẻ đi tước đoạt và nhiệm vụ đập tan sự phản kháng của chúng đã được hoàn thành trên những nét chủ yếu và cơ bản, – thì tất nhiên có một nhiệm vụ căn bản khác được đề lên hàng đầu, đó là: thiết lập một chế độ xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản, nghĩa là nâng cao năng suất lao động, và do đó (và nhằm mục đích đó) phải tổ chức lao động theo một trình độ cao hơn”(12).
Ngày 14-11-1917, Lênin đã ký vào bản “Điều lệ về chế kiểm soát của công nhân”. Theo đó, công nhân được quyền kiểm soát toàn bộ quy trình sản xuất trên mọi lĩnh vực từ công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp đến giao thông vận tại và xí nghiệp hợp tác. Ngày 28-6-1918, Sắc lệnh quốc hữu hoá toàn bộ nền đại công nghiệp được Lênin ban hành. Tới đầu tháng 9-1918 đã có hơn 3000 xí nghiệp công nghiệp được quốc hữu hoá.
Từ mùa xuân năm 1918, Sắc lệnh ruộng đất đã được bắt đầu thực hiện nhằm thoả mãn những nguyện vọng lâu đời của nhân dân Nga. Nông dân đã nhận được (không phải trả tiền) hơn 150 triệu ha ruộng đất và được xóa 3 tỷ rúp tiền nợ. V.I.Lênin đánh giá: “Đến mùa hạ và mùa thu 1918, Cách mạng Tháng Mười của thành thị mới trở thành Cách mạng Tháng Mười thật sự ở nông thôn”(13).
Hè năm 1919, nhận định tình hình đã cực kỳ nguy hiểm đối với sự tồn vong của chế độ, Lênin quyết định thực thi “Chính sách Cộng sản thời chiến”. Nội dung chủ yếu của chính sách này là sự tập trung toàn toàn việc sản xuất và phân phối trong tay Nhà nước nhằm huy động tối đã và sử dụng hợp lý nguồn của cải của đất nước, cung cấp những nhu cầu thiết yếu cho quân đội, nhân dân thành thị và nông thôn, phục vụ cho cuộc chiến đấu chống thù trong giặc ngoài. Nhờ đó mà Chính quyền Xô viết đã quét sạch mọi kẻ thù ra khỏi đất nước.
Sau đó, việc duy trì việc áp dụng “Chính sách cộng sản thời chiến” không còn hợp lý. Lênin nhận định: “Mùa xuân 1921, chúng ta thấy rõ rằng chúng ta đã thất bại trong cái ý định dùng phương pháp “xung phong”, nghĩa là dùng con đường ngắn nhất, nhanh nhất, trực tiếp nhất để thực hiện việc sản xuất và phân phối theo nguyên tắc xã hội chủ nghĩa”(14). Và Người nhận định rằng: “Liệu có thể kết hợp, liên hợp, phối hợp Nhà nước Xô-viết, nền chuyên chính vô sản, với chủ nghĩa tư bản nhà nước được không? Tất nhiên là được”(15). Và bên cạnh đó, Người cũng chỉ rõ: “Chúng ta phải lợi dụng chủ nghĩa tư bản (nhất là bằng cách hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước) làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội, làm phương tiện, con đường, phương pháp, phương thức để tăng cường lực lượng sản xuất lên”(16). Đối với nông thôn, Lênin khẳng định: “kinh tế nông dân, với tư cách là một nền kinh tế tiểu nông, không thể đứng vững được, nếu không có một sự tự do trao đổi nào đó và không có những quan hệ tư bản chủ nghĩa gắn liền với tự do trao đổi đó”(17) và Người khẳng định: “Vì muốn cải thiện đời sống của công nhân thì phải có bánh mỳ và nhiên liệu…, thế mà chúng ta chỉ có thể tăng thêm sản xuất và thu hoạch lúa mì, tăng thêm dự trữ và vận tải nhiên liệu bằng cách cải thiện đời sống của nông dân, bằng cách nâng cao lực lượng sản xuất của họ. Phải bắt đầu từ nông dân”(18). Do đó, để nhanh chóng khôi phục kinh tế, Lênin đã đề ra “Chính sách kinh tế mới” (NEP). Với nông nghiệp, nhà nước thay thế việc thu mua lương thực theo nghĩa vụ bằng đóng thuế lương thực. Sau khi nộp thuế, nông dân có toàn quyền mang lương thực dư thừa trao đổi trên thị trường. Với công nghiệp, trả lại cho chủ cũ những xí nghiệp nhỏ đã bị nhà nước tịch thu trước đó. Cho phép các nhà tư bản trong nước và nước ngoài mở các nhà máy và xí nghiệp. Với tài chính tiền tệ, mở lại Ngân hàng Nhà nước.
“Chính sách kinh tế mới” của Lênin đã nhanh chóng đạt được kết quả khả quan. Chỉ trong vòng 5 năm sau, kinh tế của đất nước Xô viết đã khôi phục lại so với thời điểm trước chiến tranh thế giới (1913). Qua phân phối thu nhập quốc dân những năm 1925 – 1926 cho thấy 82 % thu nhập quốc dân thuộc công nhân, nông dân. Sức mua của nông dân tăng 2 lần, thu nhập của gia đình nghèo và trung bình đã vượt mức năm 1913 là năm phát đạt nhất trước đây. Đúng như Lênin đã nhận định “Từ nước Nga của Chính sách Kinh tế mới sẽ nảy sinh nước Nga xã hội chủ nghĩa”(19).
Tiếp bước con đường của Lênin, Stalin khẳng định: “Biến nước ta từ một nước nông nghiệp thành một nước công nghiệp có thể tự lực sản xuất lấy thiết bị cần thiết, đó là điểm căn bản, là cơ sở của đường lối chung của chúng ta… Biến nước ta từ một nước nhập khẩu thiết bị thành một nước chế tạo được các thiết bị ấy, vì đó là điều đảm bảo sự độc lập kinh tế của nước ta. Và chính điều đó đảm bảo cho nước ta không biến thành vật phụ thuộc vào các nước tư bản chủ nghĩa”(20). Đây là sự thừa kế tư tưởng Lênincủa Stalin vì Lêninđã từng nhấn mạnh: “Cơ sở vật chất duy nhất của chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp”(21). Kết quả là đến năm 1937, sản lượng công nghiệp của Liên Xô đã vượt lên đứng hàng thứ hai trên thế giới và chiếm 14% sản lưọng công nghiệp toàn thế giới. Do đó, Liên Xô đã trở thành cường quốc công nghiệp đứng đầu châu Âu, thứ hai thế giới vào cuối những năm 1930. Và cũng từ nền tảng thành tựu nói trên, Liên Xô đã đứng vững trong cuộc chiến tranh Vệ quốc (1941 – 1944) và góp phần to lớn trong việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít, duy trì và bảo vệ nền hòa bình thế giới.
Sau Thế chiến II, nền kinh tế Liên Xô được hồi phục và phát triển khá nhanh. Đặc biệt, năm 1949 Liên Xô sản xuất được bom nguyên tử và năm 1950 là nước đầu tiên xây dựng được nhà máy điện nguyên tử.
Giai đoạn 1970 – 1985, Liên Xô tiếp tục thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ IX (1970 – 1975), lần thứ X (1975 – 1980), lần thứ XI (1981 – 1985) với những thành tựu rất khả quan. Chẳng hạn, năm 1975, chỉ cần 2 ngày rưỡi, Liên Xô đã sản xuất ra lượng sản phẩm bằng cả năm 1917 (năm cao nhất của Đế quốc Nga cũ). Và sau kế hoạch 5 năm lần thứ XI (1981 – 1985), Liên Xô có thu nhập quốc dân tăng 16,5 %, sản lượng công nghiệp tăng 20 %, sản lượng nông nghiệp tăng 11 %, năng suất lao động tăng 16 %, khối lượng đầu tư tăng 17 %.
Về sự phát triển về đời sống – văn hoá – giáo dục – khoa học kỹ thuật, vào năm 1940, Liên Xô thông báo nạn mù chữ đã được loại bỏ, điều mà nhiều cường quốc tư bản phương Tây đương thời như Mỹ, Pháp… cũng chưa hoàn thành được. Điều đáng tự hào là vào đầu những năm 80, cứ 5 người lao động ở Liên Xô thì có 1 người tốt nghiệp đại học hoặc các trường kỹ thuật. Số sinh viên của Liên Xô lớn gấp 2 lần số sinh viên của 15 nước châu Âu cộng lại. Trong lĩnh vực thể thao, kể từ khi bắt đầu tham gia Thế vận hội (Olympic) vào năm 1952 cho tới năm 1988, Liên Xô đứng đầu thế giới tại 6/9 kỳ đại hội, đứng thứ 2 trong 3 kỳ đại hội còn lại. Và Liên Xô là nước có nền khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ, có nhiều nghành đứng hàng đầu thế giới như khoa học vũ trụ, luyện kim và ngành chế tạo máy.
Về mặt quốc phòng, đến giữa những năm 70, Liên Xô đã đạt thế cân bằng về chiến lược với phương Tây. Về lực lượng quân sự, vào những năm 70 của thế kỷ XX, xét về tổng thể, khối Warsaw do Liên Xô đứng đầu đã vượt lên khối NATO do Mỹ đứng đầu.
Những thành tựu nói trên đã biến Liên Xô thành một trong những siêu cường hàng đầu của thế giới. Bên cạnh đó, Liên Xô còn là thành trì của chủ nghĩa xã hội, của cách mạng thế giới và là nước đi đầu trong việc duy trì và bảo vệ hòa bình thế giới.

Chú thích
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 300.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 280.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 300.
(4) Những người ủng hộ V.I.Lênin trong Đại hội II của Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga (1903) chiếm đa số gọi là Bônsêvích còn những người thiểu số chống lại V.I.Lênin là Mensêvích.
(5) Ngày 10-10-1917, trong bài trả lời phỏng vấn của tờ báo “Đời sống mới” (Mensêvích), Caménhép và Dinôviép đã nêu rõ việc họ không tán thành nghị quyết khởi nghĩa vũ trang của Trung ương Đảng Bônsêvích. Việc này khiến chính phủ lâm thời điều 70 tiểu đoàn xung kích và một số trung đoàn độc lập từ mặt trận về bảo vệ những trung tâm lớn như Pêtrôgrát, Mátxcơva, Kiép, Minxcơ…
(6) V.I.Lênin, Toàn tập, tập 44, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr. 154.
(7) V.I.Lênin, Toàn tập, tập 21, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1963, tr. 339.
(8) V.I.Lênin, Toàn tập, tập 34, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, tr. 502.
(9) V.I.Lênin, Toàn tập, tập 24, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1975, tr. 15.
(10) V.I.Lênin, Toàn tập, tập 34, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1975, tr. 324.
(11) V.I.Lênin: Toàn tập, tập 34, Nxb. Tiến Bộ, Mátxcơva,1976, tr.571-572.
(12) V.I.Lênin: Toàn tập, tập 36. Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, tr.228 – 229.
(13) V.I.Lênin: Toàn tập, tập 37, Nxb. Tiến Bộ, Mátxcơva,1977, tr. 37.
(14) V.I. Lênin: Toàn tập, tập 44, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr. 254.
(15) V.I. Lênin: Toàn tập, tập 43, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr. 268.
(16) V.I. Lênin: Toàn tập, tập 43, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr. 267.
(17) V.I. Lênin: Toàn tập, tập 43, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr. 376.
(18) V.I. Lênin: Toàn tập, tập 43, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr. 262.
(19) V.I. Lênin: Toàn tập, tập 44, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr. 358.
(20) I. Xtalin: Toàn tập, tập 7, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1966, tr. 338.
(21) V.I. Lênin: Toàn tập, tập 44, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva , 1978, tr. 11.

Nguyễn Văn Toàn