Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn-Cái Bé: Kiểm soát nguồn nước cho hướng tôm-lúa

25

Sáng 7/9, tại tỉnh Kiên Giang, Bộ NN&PTNT tổ chức cuộc họp lấy ý kiến về Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn-Cái Bé, có hàng trăm đại biểu là lãnh đạo địa phương, nhà khoa học tham dự. Nhiều ý kiến sôi nổi với tinh thần thực hiện Nghị quyết 120 của Chính phủ: “Chủ động sống chung với lũ, ngập, nước lợ, nước mặn”.

Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng kết luận hội nghị.

Địa phương muốn sớm xây dựng
Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang Phạm Vũ Hồng mở đầu hội nghị, nhấn mạnh: “Dự án hết sức cần thiết với Kiên Giang và các tỉnh lân cận, đáp ứng yêu cầu cuộc sống, mang lại giá trị tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều lo ngại nên có hội nghị này và mong muốn qua các ý kiến đóng góp sẽ giảm được mặt hạn chế để dự án sớm triển khai, đạt các yêu cầu đề ra”. Trong văn bản gửi Bộ NN&PTNT, Chủ tịch UBND các tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu thống nhất: “Hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé được triển khai là tiền đề xây dựng quy hoạch chung hệ thống thủy lợi ĐBSCL góp phần thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững”.

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hậu Giang Nguyễn Văn Đồng mong muốn có dự án để chuyển đổi sản xuất.

Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Hậu Giang Nguyễn Văn Đồng bày tỏ: “Chúng tôi chờ đợi mòn mỏi chục năm rồi, rất cần dự án để thoát cảnh lùng nhùng không rõ ràng mặn ngọt, mỗi năm phải đắp tạm hàng trăm đập ngăn mặn mà vẫn không chuyển đổi được sản xuất. Sau giai đoạn 1 cần thực hiện tiếp giai đoạn 2 để dự án phát huy hiệu quả tích cực”.
Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam Đỗ Dức Dũng trình bày Báo cáo tóm tắt dự án. Vùng dự án gồm 6 tỉnh và thành phố là Kiên Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng và TP. Cần Thơ, có diện tích tự nhiên 909.248 ha, dân số năm 2016 là 3,6 triệu người. Đây là vùng trũng, bị mặn xâm nhập sâu mùa khô và ngập lụt mùa mưa nên sản xuất khó khăn. Dự án nhằm kiểm soát mặn, bảo đảm môi trường cho định hướng sản xuất với trọng tâm là duy trì tôm- lúa đang phù hợp và có hiệu quả. Vốn cho dự án giai đoạn 1 là 3.310 tỷ đồng, thực hiện từ nay đến năm 2020.
Phó viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam Tăng Đức Thắng trình bày Kết quả nghiên cứu bổ sung đánh giá tác động của dự án, tập trung phân tích nguồn nước. Ông Thắng cho rằng, dự án sẽ kiểm soát được nguồn nước (mặn, ngọt) một cách chủ động để phục vụ sản xuất theo hướng hiện đại, có kế hoạch.
Các báo cáo thống nhất, dự án khi đầu tư sẽ đạt được 4 mục tiêu. Thứ nhất là kiểm soát nguồn nước (mặn, ngọt) một cách chủ động phục vụ sản xuất: Tăng khả năng cấp ngọt cho vùng Tây sông Hậu; giải quyết mâu thuẫn giữa nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp các tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang và Bạc Liêu; phát triển ổn định vùng nuôi trồng thủy sản ven biển Kiên Giang; giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô, phòng chống cháy rừng.
Thứ hai là chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tác động bất lợi từ phát triển thượng nguồn sông Mê Công đặc biệt trong những năm thiên tai (hạn hán, xâm nhập mặn cao, bão, lũ,…); góp phần giảm tác động của sụt lún đất nhằm phát triển kinh tế-xã hội ổn định. Thứ ba là tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua và cải tạo đất phèn. Thứ tư là kết hợp phát triển giao thông thủy, bộ trong vùng.

Chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện kiến nghị, nếu phê duyệt thực hiện dự án thì cần công khai để sau này trường hợp không thành công, có người chịu trách nhiệm.

Chuyên gia độc lập phản đối
Quan điểm đối lập lại cho rằng: “Dự án Thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé nếu được thực hiện sẽ phá vỡ gần như toàn bộ Nghị quyết số 120”. Đại diện cho quan điểm này là các chuyên gia nghiên cứu độc lập, gồm Tiến sỹ Lê Anh Tuấn, Dương Văn Ni, Nguyễn Hồng Tín, Đặng Kiều Nhân ở Trường Đại học Cần Thơ và chuyên gia độc lập về sinh thái Nguyễn Hữu Thiện. Các chuyên gia có bản “Đánh giá các hệ thống ngăn mặn vùng ven biển châu thổ Cửu Long và Dự án thủy lợi sông Cái Lớn-Cái Bé”.
Phần đầu bản đánh giá cho rằng, các công trình ngăn mặn ở vùng ven biển châu thổ Cửu Long trong mấy chục năm qua gây hại nhiều hơn lợi. Gây hại ở việc: cản trở giao thông, sản xuất bất ổn mặn-ngọt, làm thay đổi đặc điểm nguồn nước và nguồn lợi thủy sản, thay đổi cả chất lượng đất và sinh cảnh thực vật, thay đổi văn hóa-xã hội, tính kém hiệu quả kinh tế công trình và không có người chịu trách nhiệm.
Với Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn-Cái Bé, bản đánh giá bày tỏ quan ngại cụ thể theo 04 mục tiêu. Với mục tiêu đầu tiên, đánh giá cho rằng: “Ở vùng này, thì người dân đã biết lợi dụng chênh lệnh địa hình khác nhau để quyết định trồng lúa (vùng đất gò cao) hay nuôi tôm (vùng trũng thấp)… Như vậy, trong vùng đã hình thành các hình thức canh tác nông nghiệp và thủy sản xen kẽ khá hài hòa với điều kiện thổ ngưỡng và khí hậu, từ xưa, không có gì mâu thuẫn giữa sử dụng nước mặn và nước ngọt giữa xóm làng với nhau. Sự mâu thuẫn xuất hiện sau này từ khi có chủ trương ngọt hóa từ thập niên 1980 với mục tiêu tăng diện tích trồng lúa, từ 1 vụ lên 2-3 vụ”.
Mục tiêu hai, bản đánh giá khẳng định: “Tất cả các lý do này đều thiếu thuyết phục”. Bởi vì, sự kiện cực đoan gây hạn-mặn như mùa khô 2016 không nên bị lạm dụng làm chuẩn tình hình chung để xây dựng công trình, ngăn mặn để duy trì sản lượng lúa là thiếu thuyết phục, cho rằng nguồn nước ngọt chảy vào đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị cạn kiệt do tác động từ các nước thượng nguồn là tuyên bố võ đoán, lập luận khi xảy ra siêu bão thì cống Cái Lớn – Cái Bé cùng với đê biển và các cống trên đê sẽ ngăn tác động từ biển vào nội đồng là khó tin.
Mục tiêu thứ ba, bản đánh giá nhận xét: “Có lẽ đây là mục tiêu mà từ các giải pháp đến tính khả thi đều rất kém thuyết phục nhất”.
Mục tiêu cuối cùng, bản đánh giá viết: “Lập luận về vấn đề giao thông thủy khá mơ hồ (…). Trong dự án, không thể hiện rõ dự báo nhu cầu giao thông thủy bộ trong vùng trong tương lai và phương cách kết hợp phát triển giao thông thủy, bộ theo những kịch bản đi lại, vận chuyển khác nhau theo điều kiện con nước”.
Từ đánh giá trên, các chuyên gia độc lập kết luận: “Công trình này sẽ gây ra vô vàn hệ lụy về môi trường cho một vùng rộng lớn Tây Sông Hậu và hoàn toàn không cần thiết cũng như không thể đạt được mục đích ngăn mặn đưa ra trong dự án”. Nên bản đánh giá kiến nghị: “Khẩn cấp dừng tất cả các công trình không cần thiết, điển hình là Dự án Thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé”.

GS.TS Đào Xuân Học giải thích dự án có trong quy hoạch ĐBSCL.

Chuyên gia đầu ngành ủng hộ
Tiến sỹ Tô Vân Trường, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch thủy lợi Miền Nam, thẳng thắn: “Rất tiếc là quan điểm xuyên suốt của nhóm chuyên gia độc lập là nhìn nhận dự án được thực hiện với quan điểm ngọt hóa vùng bán đảo Cà Mau như đã từng có đề xuất trước đây với mục đích là gia tăng sản xuất lương thực mà trọng tâm là lúa. Do đó, các đánh giá của các chuyên gia luôn nhìn nhận các đề xuất của dự án là công trình cống dẫn đến ô nhiễm môi trường, thay đổi hệ sinh thái. Trong khi đó, tư tưởng chủ đạo của dự án này lấy nguồn nước và hệ sinh thái của nó làm nền tảng để đề xuất định hưởng sản xuất, các giải pháp nêu ra chỉ nhằm hỗ trợ/giúp sản xuất trong vùng chủ động hơn trong bối cảnh hiện tại, tương lai có xét đến biến đổi khí hậu, nước biển dâng cũng như các tác động của thượng nguồn”. Ông không phản đối dự án, tuy nhiên, cũng nêu lên những vấn đề cần nghiên cứu thêm như tính toán diện tích mặn ngọt, hiệu quả kinh tế của dự án và đề nghị, viết mục đích của dự án rõ hơn để không gây hiểu lầm cho các chuyên gia phản biện.
GS.TS Nguyễn Ngọc Trân ủng hộ dự án, nếu cơ quan tư vấn và Bộ NN&PTNT chứng minh giải trình được việc xây dựng cống Cái Lớn-Cái Bé là cần thiết và đầu tư không hối tiếc. Bên cạnh, ông đề nghị tổ chức thêm hội nghị bàn thảo biện pháp phi công trình. GS.TS Nguyễn Tất Đắc cũng ủng hộ đầu tư dự án để chủ động sống chung với lũ-hạn-mặn-lợ-ngọt. Còn PGS.TS Lê Việt Dũng, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Cần Thơ, cho biết, trước khi đi dự hội nghị đã trao đổi với Hiệu trưởng, thống nhất ủng hộ việc xây dựng cống Cái Lớn-Cái Bé.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hoàng Văn Thắng kết luận hội nghị, cảm ơn các ý kiến thắng thắn, xin tiếp nhận và đề nghị các chuyên gia tiếp tục đóng góp ý kiến để hoàn thiện dự án phục vụ tốt vùng nông nghiệp trong điểm quốc gia đi lên hiện đại. Trong đó, phải cân nhắc giữa bài toán môi trường và phát triển, trên cơ sở đảm bảo hỗ trợ người dân chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.

Về thắc mắc của nhóm chuyên gia độc lập phản đối dự án là tại sao không chờ quy hoạch tổng thể của Bộ KH&ĐT, vì nếu phê duyệt đầu tư cống Cái Lớn-Cái Bé mà sau này trong quy hoạch không có thì giải quyết thế nào? GS.TS Đào Xuân Học, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam, khẳng định, ông là tổ trưởng đang làm quy hoạch tổng thể giúp Bộ KH&ĐT, trong đó có công trình Cái Lớn –Cái Bé và ông ủng hộ cần làm sớm dự án để đưa sản xuất nông nghiệp đi lên hiện đại.

SÁU NGHỆ