Bất cập trong Quản lý, vận hành

3

Việc phân cấp về thực hiện quản lý chiếu sáng đô thị trên địa bàn khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (KVĐBSCL) đã được Ủy ban nhân dân các tỉnh ban hành các quy định cụ thể về phân cấp quản lý chiếu sáng đô thị. Trong đó quy định rõ trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân tham gia tổ chức chiếu sáng tại đô thị; quy định về quản lý và vận hành hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị (CSCCĐT) trên địa bàn được giao quản lý và tổ chức kiểm tra việc thực hiện các quy định này, đây là một bước đột phá rất quan trọng về chính sách làm cơ sở pháp lý cho các đơn vị quản lý, vận hành được chủ động, nâng cao trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, quản lý tài sản.
Hình thành đội ngũ làm nghề chiếu sáng
Hệ thống chiếu sáng công cộng (CSCC) tại 13 tỉnh, thành KVĐBSCL, hiện tại có 152.807 bộ đèn chiếu sáng đường phố các loại và 30.823 bộ đèn LED trang trí. Trong đó đèn chiếu sáng đường phố có 95.720 bộ đèn cao áp, 6.996 bộ đèn 02 cấp công suất và 6.623 bộ đèn LED, với tổng công suất 19.452kW. Chiếu sáng ngõ, xóm có 32.471 đèn compact và 17.993 bộ đèn huỳnh quang với tổng công suất 1.792Kw. Tỷ lệ chiếu sáng đô thị đạt 99%, chiếu sáng ngõ xóm đạt 79%, với tổng chiều dài chiếu sáng gần nghìn km. Trong những năm qua, hệ thống CSCCĐT trên đã được các công ty, doanh nghiệp của các tỉnh, thành, địa phương quản lý, vận hành, hoàn thành nhiệm vụ phục vụ công tác phát triển KT-XH, giao thông, an ninh, quốc phòng, đời sống,… của nhân dân trong khu vực.
Để đảm đương được nhiệm vụ trên các đơn vị quản lý, vận hành hệ thống CSCCĐT, các tỉnh đã hình thành hệ thống, đội ngũ, bộ máy tổ chức có đủ điều kiện, đáp ứng các yêu cầu cơ bản, đặc thù của nghề chiếu sáng. Cụ thể về nhân lực, có đội ngũ cán bộ, công nhân chuyên nghiệp có đầy đủ trình độ, năng lực chuyên môn, lành nghề, được đào tạo, có kinh nghiệm tay nghề lâu năm; về cơ sở vật chất phải đảm bảo hệ thống công nghệ, trang thiết bị và phương tiện kỹ thuật chuyên dụng cần thiết, thực hiện nhiệm vụ của công tác quản lý, vận hành. Thực tế, bộ máy, tổ chức này được hình thành, hoàn thiện qua nhiều năm, nhằm đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn tập trung quản lý trước kia.
Có được thành quả như trên, các cấp chính quyền địa phương, các tỉnh KVĐBSCL đã đầu tư, quan tâm, xây dựng, duy trì, phát triển mạng lưới CSCCĐT và nhân sự, bộ máy tổ chức của công tác này. Hàng năm các địa phương đều bố trí kinh phí để đầu tư, cải tạo để duy trì và phát triển hệ thống CSĐT. Bên cạnh đó, Hội CSVN luôn quan tâm, hỗ trợ và định hướng về công nghệ chiếu sáng, tổ chức hội thảo, hội nghị, làm cầu nối, tạo điều kiện cho các chi hội giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, ứng dụng công nghệ mới. Cùng với sự đoàn kết, quyết tâm của các đơn vị quản lý vận hành khu vực luôn tâm huyết với nghề, trao dồi kiến thức chuyên ngành, tham quan, tập huấn các công nghệ mới để ứng dụng thực tiễn vào công tác quản lý vận hành mạng lưới chiếu sáng một cách toàn diện nhất, với phương châm là thực hiện nhiệm vụ chính trị và phục vụ cho cộng đồng xã hội, không chỉ đơn thuần vì mục tiêu lợi nhuận.
Khó khăn, bất cập trong phân cấp quản lý
Đáp ứng việc quản lý, vận hành hệ thống CSCC đô thị trong giai đoạn mới, thực hiện Nghị định 130/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ đối với việc lựa chọn đơn vị quản lý, vận hành hệ thống CSCCĐT, UBND các tỉnh đã ban hành quy định cụ thể về phân cấp quản lý chiếu sáng đô thị và đưa vào thực hiện. Bước đầu đã tạo đột phá về chính sách, làm cơ sở pháp lý cho các đơn vị quản lý, vận hành được chủ động, nâng cao trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, quản lý tài sản. Đây là cơ sở pháp lý, tạo sự thuận lợi trong công tác quản lý vận hành hệ thống CSCCĐT.
Bên cạnh những đột phá, hiệu quả bước đầu, việc áp dụng phương thức cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích các địa phương cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập trong quá trình thực hiện, như: phương thức triển khai, thực hiện chưa đồng nhất, cơ chế không ổn định, có địa phương tổ chức bằng hình thức đấu thầu, có địa phương thì tổ chức đặt hàng hoặc giao kế hoạch; thời gian ký kết thực hiện hợp đồng quản lý, vận hành chỉ được ký từng năm, năng lực các đơn vị, tổ chức được giao thiếu, yếu hoặc không đủ, phải đi thuê chuyên gia, máy móc, phương tiện và công nhân lành nghề của chính các đơn vị có chức năng, năng lực chuyên môn trước kia. Từ đó dẫn đến, việc cung ứng dịch vụ công ích mang tính thời vụ, thiếu tính bền vững, ảnh hưởng đến tâm lý, chiến lược đầu tư của doanh nghiêp. Các đơn vị chưa mạnh dạn trong đầu tư, mua sắm các phương tiện, thiết bị, nhân lực vì chưa biết có khả năng thu hồi vốn đầu tư, tính khả thi chưa có cơ sở tính toán xác định cụ thể, điều đó đó đã làm hạn chế năng lực hoạt động của các đơn vị quản lý, vận hành.
Do đặc thù của hệ thống CSCCĐT phải tập trung quản lý, điều hành theo một hệ thống đồng bộ, nên trước kia việc xây dựng cơ sở dữ liệu về chiếu sáng đô thị phục vụ công tác quản lý chiếu sáng trên địa bàn các tỉnh chỉ do một đơn vị có chức năng có đủ điều kiện đảm nhiệm. Khi thực hiện sang phân cấp quản lý, hệ thống CSCC tại thành phố, quận huyện, thị xã được giao cho nhiều đơn vị quản lý. Việc nắm bắt công nghệ, cập nhật, xử lý dữ liệu trong khu vực xảy ra nhiều bất cập, chưa được thực hiện đầy đủ, khoa học, chưa thống nhất về một đơn vị đầu mối quản lý, đặc biệt các cấp phường, quận không có cán bộ chuyên môn, phương tiện chuyên dụng, dẫn đến làm chắp vá, không đảm bảo quy trình, mất an toàn, tổn thất điện năng,…
Mặt khác, định mức công tác duy trì trạm chiếu sáng cho phép thực hiện mỗi ngày (theo Quyết định số 594/QĐ-BXD ngày 30/5/2014 của Bộ Xây dựng) nhằm kiểm tra độ an toàn lưới điện, kiểm tra chất lượng đèn, ghi nhận hỏng hóc, tắt, xử lý sự cố, bảo dưỡng thiết bị tại tủ, kiểm tra rò rỉ điện năng,… Do kinh phí hạn chế nên công tác này giảm số lần thực hiện, có địa phương thực hiện chỉ 02 lần/tuần. Việc giảm tần suất thực hiện chỉ giải quyết tạm thời trước mắt giảm bớt về kinh phí, nhưng lâu dài sẽ làm tăng mức độ nguy hiểm cao nếu không được duy trì, kiểm tra hằng ngày, một cách thường xuyên, nhất là trường hợp xử lý những vấn đề rò rỉ điện năng, có thể ảnh hưởng đến tính mạng con người trong cộng đồng do một sự cố về điện không được xử lý kịp thời hoặc những ngày không có trực quản lý vận hành.
Do khó khăn kinh phí đầu tư, nên các địa phương chưa triển khai, áp dụng được các công nghệ chiếu sáng mới, hiệu suất cao, hệ thống chiếu sáng chưa có chế độ giám sát tự động bằng hệ thống điều khiển trung tâm nên việc điều tiết công suất tiêu thụ, xác định tỷ lệ hỏng, v.v… nà chỉ thực hiện theo phương pháp thống kê cơ học truyền thống. Công tác duy trì trạm chiếu sáng chưa có sự đồng nhất ở từng địa phương và sự giới hạn về kinh phí làm cho công tác duy trì trạm chiếu sáng thực hiện một cách không liên tục và thường xuyên, làm gia tăng mức độ nguy hiểm trong các trường hợp rò rỉ điện năng, ảnh hưởng đến an toàn, tính mạng con người trong cộng đồng.
Kết cấu lưới điện chiếu sáng còn nhiều nhờ trụ của Điện Lực, dễ tạo xung đột, nguy hiểm trên lưới điện của 02 nguồn điện tại một vị trí trụ. Đồng thời, do nằm trên cột điện lực, nên chiều dài tuyến chiếu sáng không đảm bảo theo thiết kế và hiệu qủa chiếu sáng, dẫn đến bố trí trạm chiếu sáng có công suất không đồng đều có trạm nặng tải, có trạm lại non tải. Bên cạnh đó, giải pháp tiết giảm điện năng, tắt xen kẽ đèn chiếu sáng, chỉ là giải pháp mang tính chất tạm thời trong việc giảm điện năng tiêu thụ, ảnh hưởng an toàn cho các đối tượng giao thông và an ninh trật tự.
Cần có Quy hoạch và Thu phí bảo trì vận hành
Xuất phát từ thực tế trên, các đơn vị, Hội viên trong ngành, Chi hội đề nghị với Hội CSVN đề xuất với Chính phủ, các Bộ ngành Trung ương xem xét, có lộ trình Thu phí bảo trì vận hành hệ thống chiếu sáng đèn đường để giảm chi ngân sách nhà nước hàng năm. Đề nghị UBND các tỉnh trong khu vực sớm tổ chức lập và phê duyệt Quy hoạch tổng thể và chi tiết về chiếu sáng đô thị cho các địa phương. Cần có kế hoạch đầu tư phát triển bền vững, phân kỳ đầu tư rõ ràng, có lộ trình, kế hoạch đầu tư trung hạn, dài hạn cụ thể để chủ động về nguồn vốn đầu tư.
Để công tác quản lý, vận hành hệ thống chiếu sáng hiêu quả, Chính quyền các địa phương cần bố trí vốn, kinh phí đầy đủ cho đơn vị quản lý, vận hành. Đồng thời tạo điều kiện cho đơn vị vận hành hệ thống chiếu sáng được quyền tham gia ý kiến vào việc lập quy hoạch chiếu sáng đô thị trên địa bàn được giao quản lý; tham gia nghiên cứu khoa học; thực hiện các dịch vụ về tư vấn, thiết kế, xây dựng chiếu sáng đô thị; nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới trong chiếu sáng công cộng, trong quản lý, vận hành hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị. Định hướng phát triển hệ thống CSCC cần có chuyên gia, đơn vị có đủ năng lực thực hiện phản biện, nhận định về mặt công nghệ, đánh giá, thẩm định về mặt chất lượng, đánh giá rủi ro… Đồng thời tận dụng năng lực, kinh nghiệm của đơn vị quản lý vận hành tại địa phương thực hiện đầu tư phân kỳ, với mục đích vừa cải tạo hệ thống chiếu sáng về kết cấu lưới điện, vừa chuyển đổi sang đèn LED, vừa tận dụng đèn chiếu sáng cũ, nên đầu tư theo hình thức công trình kiến thiết thị chính trên một tổng thể quy hoạch chiếu sáng được duyệt.
Để tạo điều kiện cho các đơn vị quản lý vận hành mạnh dạn trong đầu tư phương tiện, thiết bị, nhân lực để nâng cao hiệu suất trong công tác, Chính quyền các địa phương nên tăng thời gian Hợp đồng quản lý vận hành hệ thống CSCCĐT với thời gian từ 03 năm đến 05 năm (thay vì 01 năm như hiện nay).

Lâm Hồng